Đại án PVC: Ép tiến độ phát sinh nhiều hệ lụy
Trong lời khai chiều ngày 9/1, bị cáo Đinh La Thăng đã trần tình về tình trạng dự án Nhiệt điện Thái Bình 2 và khi làm việc với cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tại phiên tòa đã nhận thức sai sót.
Bị cáo Đinh La Thăng tại tòa
Bị cáo Đinh La Thăng tại tòa. Ảnh: TTXVN

Dự án cấp bách, cơ chế đặc thù

Bị cáo Đinh La Thăng nhận trách nhiệm của người đứng đầu. “Với các anh em tham gia dự án, chỉ đạo quyết liệt của bị cáo dẫn đến anh em không đủ thời gian cần thiết thực hiện các thủ tục dẫn đến vi phạm. Bị cáo xin nhận trách nhiệm cho anh em”, bị cáo ông Thăng nói.

Theo lời khai của bị cáo Đinh La Thăng, Dự án Nhiệt điện Thái Bình 2 là dự án nằm trong nhiều dự án về điện cả điện khí, điện than, điện gió trong chiến lươc phát triển PVN, chiến lược phát triển ngành điện. Theo chiến lược, PVN có trách nhiệm đảm bảo cung ứng 30% sản lượng điện toàn quốc.

Đây là dự án quan trọng, tiến độ cấp bách và được Chính phủ cho phép thực hiện theo cơ chế đặc thù để đẩy nhanh tiến độ nhưng tất nhiên vẫn đảm bảo chất lượng dự án.

Cơ chế đặc thù ở đây là dự án được thực hiện vừa triển khai thiết kế chi tiết vừa thực hiện các chủ trương và quyết định về đầu tư, trong thiết kế kỹ thuật thực hiện 2 giai đoạn, tức là cơ chế vừa thiết kế vừa thi công. Phần nào triển khai được mà không ảnh hưởng tổng thể thiết kế thì cho phép phê duyệt triển khai trước.

“Ép tiến độ là nguyên nhân dẫn đến quá trình triển khai thực hiện phát  sinh những hệ lụy”, bị cáo khai.

“Sau 10 năm nhìn lại dự án, khi làm việc với cơ quan điều tra và viện kiểm sát và ngay tại phiên tòa này, chúng tôi có đầy đủ thông tin mà khi triển khai lúc đó không có. Với sức ép tiến độ, chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, bị cáo đã chỉ đạo quyết liệt, có lúc nôn nóng, nóng vội. Bản thân bị cáo thấy có những việc do ép tiến độ anh em cấp dưới không đủ hiểu biết thực hiện dẫn đến vi phạm các quy trình thủ tục".

“Tôi nhận trách nhiệm vai trò người đứng đầu và mong HĐXX xem xét bối cảnh dự án trong 10 năm về trước, đặc biệt là Tập đoàn triển khai rất nhiều dự án, hành lang pháp lý chưa hoàn thiện, vừa làm vừa rút kinh nghiệm”, bị cáo Đinh La Thăng nói.

Giữa quyết liệt hành động và vi phạm là ranh giới mong manh.

Theo bị cáo Đinh  Thăng, PVC hoàn toàn đủ năng lực tài chính cũng như kinh nghiệm làm tông thầu EPC. Năm 2010, PVC lãi gần 1.000 tỷ đồng, năm 2011 lãi khoảng 200 tỷ đồng.

PVC từng thực hiện các dự án tương tự như Dự án Cà Mau 1, Cà Mau 2, Dự án Vũng Áng. Có dự án điện đã được giao cho PVC và Lilama liên doanh hiệu quả hơn so với nhà thầu nước ngoài, hiệu quả 100 triệu USD. Bị cáo đã trình Chính phủ xin giao Nhiệt điện Thái Bình 2 cho PVC, nếu không giảm được 100 triệu USD thì bị cáo xin từ chức. Thực tế là dự án đã hiệu quả 100 triệu USD.

Đối với hợp đồng 33, bị cáo Đinh La Thăng cho rằng HĐTV quyết định chủ trương đường lối, chỉ định thầu. Còn vấn đề căn cứ pháp lý chưa đủ thì sau này đã hoàn thiện. Trách nhiệm đàm phán ký kết hợp đồng không phải trách nhiệm HĐTV. Đó là trách nhiệm chủ đầu tư.

Khi vụ án xảy ra, lần đầu tiên bị cáo mới biết có hợp đồng. Trước đó, bị cáo không nhận được bất kỳ báo cáo nào của Ban quản lý, Ban giám đốc hoặc cá nhân nào đó về việc hợp đồng thiếu cơ sở pháp lý.

Về việc tạm ứng 6,6 triệu USD và hơn 1.300 tỷ đồng cho PVC, bị cáo Đinh La Thăng trình bày có 2 lần nhận được văn bản tạm ứng, bị cáo yêu cầu làm đúng thủ tục, lần thứ 3 nhận được văn bản thì chuyển Tổng giám đốc giải quyết. Chỉ có một lần tại cuộc họp giao ban, bị cáo có kết luận về việc tạm ứng và yêu cầu thực hiện theo quy định. Việc tạm ứng là trách nhiệm của những người được phân công, không phải trách nhiệm HĐTV hay Chủ tịch.

“Giữa quyết liệt hành động và vi phạm là ranh giới mong manh. Bị cáo mong HĐXX xem xét hành vi trong bối cảnh và đánh giá toàn diện”, bị cáo Thăng nói.

Bùi Trang - Đỗ Mến

Bình luận của bạn về bài viết...