Kho báu trong đêm Hà Nội thực ra vẫn hiện diện quanh ta. Nó ở trong tiếng nhạc vang lên cuối tuần quanh hồ Gươm; là hình ảnh những đoàn khách bước chậm dưới ánh đèn Hoàng thành Thăng Long; là hàng quán ven Hồ Tây còn sáng đèn tới khuya hay chợ hoa Quảng Bá đều đặn thức giấc trước mỗi bình minh.

 

Chỉ có điều, suốt nhiều năm, những điểm sáng ấy vẫn tồn tại đơn lẻ, rời rạc hơn là một hệ sinh thái kinh tế đúng nghĩa. Cho tới khi đêm Hà Nội bắt đầu được nhìn bằng một tư duy khác: không còn là phần nối dài của ban ngày, mà là một không gian tăng trưởng mới đầy tiềm năng.

 

 

 

Từ London, New York đến Sydney, kinh tế đêm đang tạo ra hàng chục tỷ USD doanh thu, đóng góp đáng kể vào GDP và trở thành động lực tăng trưởng mới của các đô thị toàn cầu.

 

Tại nhiều thành phố lớn trên thế giới, đêm từ lâu không còn là khoảng nghỉ của đô thị mà đã trở thành một “ca làm việc” của nền kinh tế. Theo nghiên cứu của Ernst & Young (E&Y), ngành công nghiệp ban đêm tại Vương quốc Anh đóng góp khoảng 6% GDP, đạt quy mô gần 66 tỷ bảng Anh, tạo ra hơn 1,25 triệu việc làm, trong đó riêng London chiếm khoảng 26,4 tỷ bảng Anh và hơn 723.000 lao động.

 

Ở Mỹ, nền kinh tế đêm của New York tạo ra khoảng 35,1 tỷ USD mỗi năm, hỗ trợ khoảng 300.000 việc làm, giúp thành phố này duy trì hoạt động gần như không ngừng nghỉ sau khi hoàng hôn buông xuống. Tại Australia, kinh tế đêm đóng góp khoảng 4% GDP, với quy mô lên tới hàng trăm tỷ USD, riêng Sydney đạt khoảng 27,2 tỷ USD/năm. Không chỉ tạo doanh thu, nhiều đô thị còn xem kinh tế đêm là công cụ kéo dài thời gian lưu trú, gia tăng chi tiêu du lịch, thúc đẩy dịch vụ, văn hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến trong bối cảnh kinh tế trải nghiệm ngày càng lên ngôi.

 

 

Times Square - địa điểm du lịch đêm, biểu tượng của sự sôi động, hiện đại và nhịp sống không ngừng của New York.

 

 

Nhiều thành phố lớn tại châu Á cũng đã xem kinh tế đêm như một động lực tăng trưởng mới của đô thị, nơi dòng tiền tiếp tục chảy thông qua thương mại, giải trí, văn hóa, du lịch và tiêu dùng trải nghiệm.

 

Tại Trung Quốc, kinh tế đêm đang trở thành một phần quan trọng của chiến lược kích cầu tiêu dùng nội địa. Chính phủ nước này xác định tiêu dùng hiện đóng góp hơn 60% tăng trưởng GDP, trong đó các hoạt động về đêm được xem là “động cơ mới” để thúc đẩy chi tiêu. Những đô thị lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân hay Quảng Châu đã mở rộng thời gian hoạt động của giao thông công cộng, trung tâm thương mại, bảo tàng và các khu giải trí nhằm kéo dài hành vi tiêu dùng sau 20 giờ.

 

Riêng tại Thượng Hải, một trong những “thủ phủ kinh tế đêm” của châu Á, tiêu dùng ban đêm đã trở thành cấu phần đáng kể của nền kinh tế đô thị. Theo số liệu của chính quyền thành phố, trong các kỳ lễ hội kinh tế đêm, chi tiêu offline có thời điểm chiếm gần 30% tổng tiêu dùng trong ngày, với giá trị đạt khoảng 42,7 tỷ Nhân dân tệ (gần 6 tỷ USD) chỉ trong một tháng. Thượng Hải nhiều năm liên tiếp được xếp vào nhóm thành phố có sức mạnh kinh tế đêm lớn nhất Trung Quốc.

 

Ở Nhật Bản, đặc biệt là Tokyo, kinh tế đêm đang được thúc đẩy như một chiến lược gia tăng chi tiêu của khách quốc tế. Trong bối cảnh tổng chi tiêu du lịch inbound của Nhật Bản đạt khoảng 8,1 nghìn tỷ yên (tương đương hơn 53 tỷ USD) trong năm 2024, chính quyền Tokyo đang phát triển mạnh các sản phẩm biểu diễn nghệ thuật, văn hóa, mua sắm, giải trí đêm và không gian tiêu dùng sau 20 giờ để giữ chân du khách lâu hơn.

 

Tại Hàn Quốc, Seoul tận dụng sức hút của K-culture, âm nhạc, biểu diễn, mỹ phẩm, mua sắm đêm và ẩm thực như một phần của nền kinh tế trải nghiệm. Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC), lĩnh vực du lịch, dịch vụ của Hàn Quốc dự kiến đóng góp khoảng 96,2 nghìn tỷ won (xấp xỉ 70 tỷ USD) cho nền kinh tế năm 2024, tương đương khoảng 4,3% GDP, tạo ra khoảng 1,4 triệu việc làm. Trong đó, Seoul đang được định vị như một “thành phố không ngủ kiểu châu Á”, nơi các hoạt động văn hóa tiêu dùng kéo dài tới đêm khuya nhằm tối đa hóa chi tiêu của khách quốc tế.

 

Không chỉ trên đường phố, kinh tế đêm tại châu Á còn mở rộng sang không gian số. Tại Trung Quốc, báo cáo của Alibaba cho thấy hơn 36% tổng giá trị giao dịch trên nền tảng Taobao diễn ra vào buổi tối, phản ánh xu hướng tiêu dùng đêm ngày càng rõ nét trong nền kinh tế số.

 

Những con số ấy cho thấy, ở nhiều đô thị châu Á, đêm không còn là khoảng nghỉ của thành phố mà đã trở thành một phần quan trọng của tăng trưởng, sức cạnh tranh điểm đến và năng lực giữ dòng tiền ở lại lâu hơn trong nền kinh tế đô thị.

 

 

 

Tại Việt Nam, Quyết định 1129/QĐ-TTg năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ từng mở ra không gian thử nghiệm cho kinh tế đêm. Nhưng sau gần 6 năm, bài toán lớn của nhiều địa phương vẫn là làm sao biến những hoạt động rời rạc thành một hệ sinh thái đủ sức kéo dài hành trình tiêu dùng và gia tăng chi tiêu du lịch.

 

Với Hà Nội, yêu cầu ấy càng trở nên cấp thiết khi thành phố sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa, di sản và lượng khách lớn nhưng chưa hình thành được một cấu trúc vận hành đủ mạnh cho kinh tế đêm.

 

Ngày 9/5/2026, UBND TP Hà Nội chính thức phê duyệt Đề án “Phát triển kinh tế đêm trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026–2030, định hướng đến năm 2045”, đánh dấu bước chuyển trong tư duy phát triển đô thị của Thủ đô: lần đầu tiên câu chuyện màn đêm được đặt vào một chiến lược kinh tế, văn hóa và quản trị đô thị dài hạn.

 

Đề án do Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội chủ trì xây dựng, với sự tham gia tư vấn chuyên môn của Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật (Đại học Quốc gia Hà Nội) cùng nhiều nhà khoa học, chuyên gia và doanh nghiệp.

 

 

 

Không phải ngẫu nhiên Hà Nội được xem là một trong những địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi nhất để phát triển kinh tế đêm tại Việt Nam. Theo TS. Trần Việt Dũng, Trưởng khoa Quản trị và Kinh tế sáng tạo (Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội) - người trực tiếp tham gia xây dựng Đề án Phát triển kinh tế đêm của Hà Nội, Thủ đô đang hội tụ gần như đầy đủ các yếu tố để hình thành mô hình “thành phố thị trường văn hóa và dịch vụ sáng tạo” - nền tảng quan trọng cho sự phát triển của kinh tế đêm trong tương lai.

 

Thực tế, kinh tế đêm không phải một khái niệm hoàn toàn mới với Hà Nội. Thành phố đã sở hữu từ lâu những nguồn lực mà nhiều địa phương phải mất nhiều năm mới có thể gây dựng: bề dày lịch sử hơn một nghìn năm, mật độ di sản thuộc nhóm lớn nhất cả nước, hệ thống làng nghề phong phú, đời sống văn hóa đặc sắc cùng sức hút mạnh mẽ đối với du khách trong và ngoài nước.

 

Không chỉ giàu tài nguyên văn hóa, Hà Nội còn sở hữu lợi thế của một thị trường tiêu dùng quy mô lớn. Với hơn 8 triệu dân, chưa kể lượng khách vãng lai, chuyên gia nước ngoài và hàng triệu lượt khách du lịch mỗi năm, Thủ đô hình thành một nguồn cầu dồi dào cho các hoạt động dịch vụ sau khi mặt trời lặn. Bên cạnh đó, mức chi phí trải nghiệm tương đối hợp lý cũng giúp Hà Nội trở thành điểm đến hấp dẫn đối với nhiều nhóm du khách quốc tế.

 

Nếu nhiều thành phố phải tìm kiếm tài nguyên để phát triển kinh tế đêm, thì với Hà Nội, phần lớn “kho báu” ấy đã hiện hữu. Vấn đề còn lại không phải là có hay không có tiềm năng, mà là làm thế nào để nhận diện, kết nối và chuyển hóa những nguồn lực sẵn có thành các trải nghiệm đủ sức giữ chân du khách, kéo dài thời gian lưu trú và tạo ra giá trị kinh tế mới cho Thủ đô.

 

 

 

 

Quan trọng hơn, Hà Nội lựa chọn một cách tiếp cận khác: không phát triển “thành phố không ngủ” bằng mọi giá, mà xây dựng mô hình kinh tế đêm dựa trên văn hóa, du lịch và công nghiệp sáng tạo, bảo đảm cân bằng giữa tăng trưởng với bảo tồn bản sắc, môi trường sống và sự đáng sống của đô thị.

 

Trong cuộc cạnh tranh điểm đến ngày càng quyết liệt, Hà Nội gần như không thể đứng ngoài xu hướng phát triển kinh tế đêm ở các đô thị lớn. TS. Hà Văn Siêu, Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam cho rằng, kinh tế đêm không đơn thuần là câu chuyện mở cửa muộn hơn hay kéo dài giờ hoạt động của dịch vụ. Đây là một cấu phần quan trọng của nền kinh tế trải nghiệm, nơi đô thị tạo thêm giá trị mới dựa trên chính tài nguyên văn hóa, lịch sử, cộng đồng và nhịp sống của mình.

 

Theo ông Siêu, Hà Nội đang sở hữu dư địa đặc biệt lớn khi vừa là trung tâm chính trị, văn hóa của cả nước, vừa có hệ thống di sản, không gian cộng đồng, ẩm thực và lượng khách lớn bậc nhất cả nước. “Ít có thành phố nào có nguồn tài nguyên để phát triển kinh tế đêm đa dạng như Hà Nội”, ông nhận định.

 

 

 

 

Ở góc độ thị trường, ông Nguyễn Văn Tài, CEO VietSense Travel cho rằng hành vi của khách quốc tế đang thay đổi nhanh chóng. Du khách ngày càng có xu hướng kéo dài trải nghiệm sau khung giờ hành chính thông thường, đặc biệt với các hoạt động mang tính văn hóa và bản địa. Điều đó khiến khoảng thời gian sau 20 giờ trở thành một dư địa tăng trưởng mà Hà Nội khó có thể bỏ lỡ.

 

Điều ấy lý giải vì sao nhiều đô thị du lịch hiện nay coi các hoạt động trong đêm như một “mặt trận tăng trưởng mới”, nơi khả năng giữ chân khách đồng nghĩa với khả năng giữ dòng tiền. Theo bà Nhữ Thị Ngần, Tổng Giám đốc Hanoi Tourism, khoảng thời gian sau bữa tối vốn là “khung giờ vàng” của chi tiêu du lịch. Đây là lúc du khách sẵn sàng dành ngân sách cho giải trí, mua sắm, nghệ thuật hoặc trải nghiệm địa phương. Song khi chuỗi sản phẩm chưa đủ phong phú hoặc thiếu tính kết nối, cảm xúc của du khách thường hụt hẫng và họ sẽ kết thúc hành trình khám phá sớm hơn kỳ vọng.

 

Ở góc nhìn doanh nghiệp lữ hành, ông Lê Công Năng, Chủ tịch HĐQT Wondertour cho rằng, cạnh tranh điểm đến đang ngày càng quyết liệt khi nhiều thành phố trong khu vực liên tục nâng cấp trải nghiệm đêm để hút khách quốc tế. Điều đó khiến Hà Nội không chỉ cạnh tranh với các địa phương trong nước, mà còn xác định phải “so kè” với các đô thị trong khu vực như Bangkok, Seoul hay Singapore.

 

 

 

 

Thủ đô bắt đầu nhìn buổi đêm như một không gian kinh tế mới. Và tham vọng ấy được thể hiện rất rõ trong mục tiêu mà Thành phố vừa đặt ra: kinh tế đêm đóng góp khoảng 7-8% GRDP vào năm 2035. Nhưng mục tiêu tăng trưởng sẽ khó thành hiện thực nếu Hà Nội vẫn tiếp tục để phần lớn hoạt động chi tiêu du lịch dừng lại trước nửa đêm. Một đô thị đón lượng khách lớn nhưng chưa kéo dài được thời gian tiêu dùng về đêm đồng nghĩa với việc một phần đáng kể cơ hội tăng trưởng vẫn đang “đi ngủ” quá sớm.

 

 

 

Đêm Hà Nội trong tương lai gần sẽ không “sáng” đều như nhau. Sẽ có nơi rực rỡ, sôi động, có nơi thư thái, nhẹ nhàng. Có nơi giữ lại sự tĩnh lặng, sâu lắng. Đó là logic phát triển mà Hà Nội lựa chọn khi chia không gian kinh tế đêm thành ba vùng: vùng động, vùng chuyển tiếp và vùng tĩnh, mỗi khu vực mang một vai trò riêng trong hệ sinh thái tổng thể.

 

Trong cấu trúc ấy, vùng động được xác định là cực tăng trưởng của kinh tế đêm, nơi tập trung các hoạt động có khả năng tạo sức hút lớn về du lịch, thương mại và trải nghiệm. Hồ Hoàn Kiếm, khu phố cổ, Hồ Tây hay không gian ven sông Hồng được định hướng trở thành những tọa độ trung tâm của đêm Hà Nội, nơi các hoạt động văn hóa, giải trí, nghệ thuật, ẩm thực và dịch vụ có thể vận hành với cường độ cao hơn.

 

Không khó để hình dung điều ấy từ thực tế đang diễn ra quanh hồ Gươm vào mỗi cuối tuần, hay nhịp sống ven Hồ Tây trong những đêm hè, nơi người dân và du khách vẫn còn ngồi khá muộn bên mặt nước. Xa hơn, sông Hồng được kỳ vọng trở thành một không gian trải nghiệm mới, mở ra dư địa cho kinh tế mặt nước, nghệ thuật đêm và các sản phẩm gắn với cảnh quan đô thị.

 

Trong cấu trúc ấy, vùng chuyển tiếp lại mang một vai trò khác. Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, hệ thống bảo tàng hay một số không gian văn hóa được định vị như những lớp ký ức của đô thị, nơi đêm Hà Nội không vận hành bằng sự náo nhiệt mà bằng chiều sâu trải nghiệm. Ở đó, lịch sử, văn hóa và ký ức trở thành chất liệu chính cho các hoạt động về đêm, giống như cách tour đêm Hoàng thành Thăng Long hay tour thăm Nhà tù Hỏa Lò đang tạo hiệu ứng tích cực thời gian qua.

 

Thay vì tiếng nhạc lớn hay những không gian giải trí dày đặc, khu vực này hướng tới những trải nghiệm tinh tế hơn, nơi người ta có thể bước chậm hơn giữa một đô thị nghìn năm tuổi, nghe lịch sử được kể lại bằng ánh sáng, âm thanh và những lớp thời gian.

 

Trong khi đó, vùng tĩnh được xem như lớp nền để bảo đảm chất lượng sống của đô thị, nơi các yếu tố môi trường, an ninh và bảo tồn được đặt lên hàng đầu. Không phải mọi khu vực của Hà Nội đều cần sáng đèn đến khuya hay vận hành với cùng một nhịp độ. Có những khoảng sáng cần mở rộng nhưng cũng có những khoảng lặng cần được giữ lại để bảo đảm chất lượng sống đô thị.

 

Một đô thị nghìn năm tuổi không thể chỉ vận hành bằng ánh sáng và sự náo nhiệt. Nó còn cần những khoảng lặng đủ dài để giữ ký ức, những vùng tĩnh đủ rộng để người dân vẫn cảm thấy mình đang sống trong một thành phố đáng sống. Kinh tế đêm, vì thế, với Hà Nội có lẽ không chỉ là câu chuyện tăng trưởng. Nó còn là bài toán của sự cân bằng giữa phát triển và bảo tồn, giữa sức sống của du lịch và quyền được bình yên của cộng đồng cư dân.

 

Đây cũng là lựa chọn cho thấy Hà Nội không muốn phát triển kinh tế đêm bằng mọi giá. Bởi một thành phố đáng sống sẽ rất khó bền vững nếu đánh đổi sự bình yên của cộng đồng để lấy tăng trưởng ngắn hạn.

 

 

Song nếu bản đồ ấy đã bắt đầu được vẽ khá rõ, một câu hỏi khác lại xuất hiện: Liệu Hà Nội có nên đi theo con đường của Bangkok hay Seoul để tạo sức bật cho kinh tế đêm? Hay Thủ đô buộc phải tìm một lối đi riêng cho chính mình?

 

Gần nửa đêm bên hồ Tây, khi những dãy đèn vàng còn đang đổ bóng xuống mặt nước và dòng xe đã bắt đầu thưa hơn, ông Lucas bất ngờ hỏi người hướng dẫn một câu khá giản dị nhưng lại chạm tới đúng bài toán mà Hà Nội đang đối diện: “Vì sao Hà Nội không mở nhiều hoạt động xuyên đêm như Bangkok?”.

 

Bà Camille nhìn mặt hồ tối thêm vài phút rồi khẽ cười: “Bangkok vui thật… nhưng Hà Nội có cảm giác khác. Chỉ là đôi lúc tôi thấy thành phố này đi ngủ hơi sớm”.

 

Với nhiều du khách quốc tế, Bangkok, Tokyo hay Seoul thường được xem như những hình mẫu dễ thấy của kinh tế đêm châu Á. Song câu hỏi đặt ra với Hà Nội không nằm ở việc có nên giống họ hay không, mà ở việc Thủ đô sẽ kể câu chuyện riêng của mình như thế nào.

 

Phần lớn chuyên gia đều cho rằng lợi thế lớn nhất của Hà Nội không nằm ở mức độ náo nhiệt, mà ở chiều sâu văn hóa, ký ức đô thị và những trải nghiệm bản địa còn hiện diện rõ trong đời sống thường ngày. Điều đó cũng đồng nghĩa, kinh tế đêm của Thủ đô sẽ khó tạo dấu ấn nếu đi theo tư duy sao chép, mà phải được xây dựng trên những giá trị chỉ Hà Nội mới có.

 

PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng lợi thế lớn nhất của Hà Nội nằm ở sức mạnh mềm văn hóa. Theo ông, nếu chỉ chạy theo sự náo nhiệt hay tiêu dùng đơn thuần, Thủ đô rất dễ bước vào cuộc cạnh tranh mà nhiều thành phố khác đã đi trước quá xa. Giá trị khác biệt của Hà Nội nằm ở chiều sâu văn hiến, di sản và khả năng biến ký ức đô thị thành trải nghiệm giàu cảm xúc.

 

 

PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu cho rằng, phát triển kinh tế đêm của Hà Nội phải được đặt trong tổng thể phát triển đô thị văn hóa. Một thành phố có bề dày lịch sử như Hà Nội càng phải thận trọng trước những lựa chọn tăng trưởng. Nếu đánh đổi bản sắc lấy sự sôi động ngắn hạn, lợi thế cạnh tranh lớn nhất của Thủ đô sẽ dần mất đi.

 

Kho báu có thể đã được nhận diện. Song nhìn thấy tiềm năng mới chỉ là bước đầu. Điều khó hơn nằm ở chỗ: Hà Nội sẽ phải làm gì để những điểm sáng còn phân tán, những mỏ vàng còn ẩn giấu trong đêm thực sự biến thành dòng tiền làm giàu đẹp Thủ đô?

 

 

(CÒN NỮA)

 

XEM THÊM

 

LỜI TÒA SOẠN

 

CHƯƠNG 1:

“NGÀY MỚI THỨ HAI” CỦA HÀ NỘI

 

CHƯƠNG 3

LÀM GÌ ĐỂ DÒNG TIỀN CHẢY MẠNH TRONG ĐÊM?

 

CHƯƠNG 4

“ĐỂ BỨC TRANH ĐÊM HÀ NỘI RỰC RỠ

MÀ BÌNH YÊN, AN TOÀN”

 

CHƯƠNG 5:

GIẤC MƠ VỀ MỘT HÀ NỘI TỎA SÁNG TRONG ĐÊM

 

 

HỒ HẠ THỰC HIỆN 05/06/2026 09:22
Back To Top