Trong cuộc cạnh tranh FDI thế hệ mới, ưu đãi thuế không còn là quân bài quyết định. Mục tiêu 25 tỷ USD đặt Hà Nội trước một bài toán khó hơn: làm thế nào chuyển hóa vốn ngoại thành sức mạnh nội sinh? Câu trả lời đang được định hình bằng một “bộ lọc” đầu tư mới, ưu tiên bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghiệp xanh và những dự án có cam kết R&D, chuyển giao công nghệ, kết nối với doanh nghiệp Việt Nam. Thành công của hành trình này sẽ được đo bằng những mắt xích giá trị cao mà Thủ đô và doanh nghiệp trong nước có thể nắm giữ.

Tại Công ty TNHH MTV Onaga Việt Nam, quá trình chuyển đổi số đang được triển khai theo lộ trình tự động hóa dây chuyền sản xuất. Dữ liệu, bản vẽ kỹ thuật và hồ sơ truy xuất được quản lý bằng hệ thống ERP theo tiêu chuẩn của ngành hàng không.

 

Từ một dự án 100% vốn FDI Nhật Bản, Onaga Việt Nam còn tham gia hình thành chuỗi cung ứng hàng không vũ trụ thông qua đào tạo tiêu chuẩn AS9100D. Hiện đã có hai doanh nghiệp đạt chứng nhận, một doanh nghiệp đang được đào tạo và dự kiến hoàn thành trong năm 2026.

 

Trong vòng 3 đến 5 năm tới, Onaga Việt Nam kỳ vọng mở rộng sản xuất tại Hà Nội, đầu tư nhà xưởng quy mô lớn hơn để gia công những chi tiết máy bay có kích thước lớn và độ chính xác cao hơn.

 

Ông Trần Văn Thuấn, Quản lý chung Công ty TNHH MTV Onaga Việt Nam cho biết, doanh nghiệp lựa chọn Hà Nội nhờ nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của ngành hàng không vũ trụ. Hệ thống giao thông thuận lợi, khả năng kết nối với sân bay Nội Bài và điều kiện mở rộng sản xuất cũng là những yếu tố quan trọng.

 

Câu chuyện của Onaga Việt Nam cho thấy điều Hà Nội kỳ vọng từ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn mới. Giá trị của một dự án không dừng ở nhà máy hay số vốn đăng ký, mà còn nằm ở những tiêu chuẩn sản xuất được lan tỏa, đội ngũ nhân lực được đào tạo và cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

 

 

Chuyển động này đang được thể hiện rõ hơn trong cơ cấu FDI của Thủ đô. Năm 2026, Hà Nội đặt mục tiêu thu hút khoảng 4,5 tỷ USD. Đến cuối tháng 8, tổng vốn thu hút đạt khoảng 3.737,35 triệu USD, tương đương 83,05% mục tiêu cả năm.

 

Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ dẫn đầu với khoảng 2.240,18 triệu USD, chiếm gần 60% tổng vốn FDI thu hút. Tiếp đến là thông tin và truyền thông với khoảng 336,03 triệu USD; kinh doanh bất động sản đạt khoảng 295,42 triệu USD; bán buôn, bán lẻ đạt khoảng 230,77 triệu USD; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải đạt khoảng 220,18 triệu USD.

 

Dòng vốn ngoại đang dịch chuyển về phía khoa học, công nghệ, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, phù hợp với lợi thế của Hà Nội về giáo dục, đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.

 

Theo ông II-Dong Kwon, Giám đốc điều hành BCG Vietnam, đây là bước chuyển cần thiết để nền kinh tế Việt Nam thoát khỏi mô hình tăng trưởng dựa vào chi phí, tiến tới dựa nhiều hơn vào đổi mới sáng tạo. Việt Nam có những lợi thế quan trọng như dân số trẻ, mức độ tham gia đa dạng vào các chuỗi giá trị toàn cầu, lực lượng lao động có tính kỷ luật và tốc độ cải cách thể chế nhanh.

 

Hà Nội đặt mục tiêu thu hút 25 tỷ USD FDI giai đoạn 2026 đến 2030, cao gấp hơn hai lần giai đoạn trước. Nguồn lực này được kỳ vọng góp phần cụ thể hóa mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 11% mỗi năm, nhưng 25 tỷ USD chưa phải thước đo duy nhất.

 

Thành công của giai đoạn mới sẽ được đánh giá bằng công nghệ được chuyển giao, giá trị gia tăng được tạo ra, chất lượng việc làm và năng lực của nhà cung ứng trong nước.

 

Phó Giám đốc Sở Tài chính Hà Nội Lê Trung Hiếu chia sẻ: “Chúng tôi cần nguồn vốn FDI thế hệ mới để biến kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn thành động lực tăng trưởng mới. Hà Nội không còn ưu tiên thu hút về số lượng đơn thuần mà chuyển mạnh sang chất lượng, lấy trình độ công nghệ và khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước làm tiêu chí lựa chọn”.

 

Trình độ công nghệ, hiệu quả sử dụng đất, mức độ thân thiện với môi trường, cam kết R&D và khả năng liên kết với doanh nghiệp Việt Nam sẽ trở thành những tiêu chí quan trọng trong lựa chọn dự án.

 

 

Nguyên tắc “ưu đãi đi kèm cam kết” cũng đặt ra yêu cầu rõ ràng hơn đối với nhà đầu tư. Dự án được hưởng ưu đãi phải thể hiện cam kết về công nghệ, đào tạo nhân lực, R&D, chuyển giao công nghệ, tiến độ triển khai và kết nối chuỗi cung ứng trong nước.

 

Cách tiếp cận này nhằm hạn chế những dự án sử dụng nhiều đất, dựa chủ yếu vào lao động phổ thông hoặc có trình độ công nghệ trung bình nhưng đóng góp chưa tương xứng với nguồn lực được hưởng. Ngược lại, những dự án có khả năng hình thành hệ sinh thái sản xuất và thúc đẩy đổi mới sáng tạo sẽ được ưu tiên.

 

“Đây là cơ sở để Hà Nội hướng tới những ‘đơn hàng’ đầu tư lớn hơn, nhưng quan trọng hơn là có chất lượng cao hơn. Thành phố có thể chủ động lựa chọn nhà đầu tư có năng lực tài chính, công nghệ và quản trị, đồng thời yêu cầu cam kết cụ thể về tiến độ triển khai, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước”, Phó Giám đốc Sở Tài chính Hà Nội Lê Trung Hiếu đánh giá.

 

Các cơ chế đặc thù, vượt trội của Luật Thủ đô năm 2026, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, tạo thêm dư địa để Hà Nội lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt và xây dựng chính sách ưu đãi phù hợp với những dự án quan trọng.

 

Cùng với đó, việc hình thành Cổng một cửa đầu tư quốc gia, kết nối hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và hạ tầng kỹ thuật về đầu tư được kỳ vọng nâng cao tính minh bạch, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục và giảm chi phí cho doanh nghiệp.

 

 

Đến năm 2030, Hà Nội dự kiến ưu tiên các tập đoàn đa quốc gia, trung tâm R&D, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm dữ liệu, trung tâm thiết kế vi mạch, các định chế tài chính quốc tế và những dự án công nghệ cao.

 

Khoảng 80% vốn FDI thu hút mới được định hướng đến từ các nền kinh tế phát triển. Một nửa tổng vốn FDI mới sẽ tập trung vào công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, R&D và công nghiệp xanh. Hà Nội cũng đặt mục tiêu thu hút 10 tập đoàn đa quốc gia đặt trụ sở, văn phòng điều hành, trung tâm R&D hoặc trung tâm đổi mới sáng tạo tại Thủ đô.

 

Theo ông II-Dong Kwon, Việt Nam đã có nền tảng khá tốt trong lắp ráp, đóng gói và kiểm thử chip bán dẫn, nhưng có thể từng bước tiến lên thiết kế chip và hướng tới sản xuất chip trong dài hạn. AI cũng đang phát triển nhanh, với vốn đầu tư tăng 13 lần kể từ năm 2023, lên 130 triệu USD. Nền kinh tế số hiện đóng góp khoảng 14% GDP, mở ra tiềm năng phát triển trung tâm dữ liệu.

 

 

Để chuẩn bị nguồn lực cho quá trình chuyển dịch từ gia công sang nghiên cứu, thiết kế và sáng tạo, năm 2026, Hà Nội bố trí khoảng 4% tổng chi ngân sách, tương đương 9.000 tỷ đồng mỗi năm, dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

 

Ông Na Ki Hong, Tổng Giám đốc Samsung Việt Nam cho biết, Samsung đã ký biên bản ghi nhớ với TP. Hà Nội về hợp tác đào tạo nhân lực công nghệ cao và sẽ tiếp tục đồng hành với Thành phố trong các chương trình phát triển đổi mới sáng tạo, bồi dưỡng nhân tài theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW.

 

Samsung sẽ ưu tiên nguồn lực cho Samsung Innovation Campus với các lĩnh vực AI, Internet vạn vật và dữ liệu lớn. Năm 2026, chương trình lần đầu đưa nội dung đào tạo bán dẫn vào giảng dạy ở ba cấp độ, góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn của Việt Nam đến năm 2030.

 

Sự tham gia của một tập đoàn công nghệ toàn cầu vào quá trình đào tạo cho thấy giá trị của FDI có thể vượt ra ngoài phạm vi nhà máy. Tri thức, kỹ năng, tiêu chuẩn quản trị và năng lực nghiên cứu sẽ trở thành nguồn lực được lưu lại nếu doanh nghiệp trong nước có đủ khả năng tiếp nhận.

 

Theo ông Sven David, Tổng Giám đốc Công ty tư vấn VIET Transformation Advisors, Nghị quyết số 10-NQ/TW có thể áp dụng các cơ chế ưu đãi có chọn lọc, dựa trên kết quả đầu ra, gắn với chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung cấp trong nước, R&D và nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam.

 

Ông Sven David cho rằng cần tiếp tục phát huy các chương trình hợp tác của Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia với Nvidia, TSMC, Samsung, Qualcomm và ASML, đồng thời bảo đảm phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp bán dẫn quốc gia. Trọng tâm nên là mở rộng những sáng kiến hiện có và củng cố năng lực trong nước.

 

 

 

Nếu mục tiêu 25 tỷ USD thể hiện sức hút của Hà Nội, khả năng đưa doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng FDI mới là thước đo sức lan tỏa.

 

Đến năm 2030, Hà Nội đặt mục tiêu có khoảng 350 doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI; tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt từ 45% trở lên.

 

Tại Khu công nghiệp hỗ trợ Nam Hà Nội, sự kết nối giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước đang được thúc đẩy. Ông Houang Ming Chuan, Giám đốc Sản xuất Công ty TNHH Công nghệ MiTAC cho rằng, Hà Nội giữ vai trò đầu tàu phát triển kinh tế của Vùng Thủ đô nhờ quy mô kinh tế lớn, vị thế trung tâm đổi mới sáng tạo, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao.

 

 

Các dự án FDI tại Hà Nội tạo ra chuỗi liên kết sản xuất với những địa phương lân cận, góp phần hình thành chuỗi cung ứng và thúc đẩy phát triển kinh tế toàn vùng.

 

“Chủ đầu tư HANSSIP ưu tiên thu hút các dự án FDI công nghệ cao, đồng thời kết nối các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong và ngoài Hà Nội tham gia chuỗi cung ứng. Việc liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước sẽ giúp doanh nghiệp Việt nâng cao năng lực sản xuất, quản trị và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu”, ông Houang Ming Chuan khẳng định.

 

Theo ông Trần Phương Lam, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn N&G Việt Nam, tăng cường liên kết vùng sẽ giúp các địa phương phát huy lợi thế riêng. Khi có cơ chế phối hợp hiệu quả, nhà đầu tư có thể tiếp cận một không gian phát triển rộng hơn, trong đó các địa phương bổ trợ cho nhau về quỹ đất, nhân lực, công nghiệp hỗ trợ, logistics và hạ tầng giao thông.

 

“Chúng tôi kỳ vọng thời gian tới sẽ thu hút nhiều hơn các dự án có giá trị gia tăng cao trong các lĩnh vực như điện tử, bán dẫn, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu, logistics hiện đại và các ngành công nghiệp hỗ trợ”, ông Trần Phương Lam chia sẻ.

 

Tuy nhiên, sức lan tỏa của FDI không tự nhiên hình thành sau khi dự án được cấp phép. Doanh nghiệp Việt Nam phải đáp ứng những yêu cầu nghiêm ngặt về kỹ thuật, chất lượng, truy xuất, tiến độ giao hàng và quản trị.

 

Khi doanh nghiệp trong nước có thể nhận đơn hàng, tham gia thiết kế, sản xuất linh kiện và cung cấp dịch vụ kỹ thuật, chu trình chuyển hóa mới hoàn chỉnh: vốn FDI tạo ra dự án công nghệ cao; dự án mở ra nhu cầu về nhân lực, linh kiện và dịch vụ; doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn để tham gia chuỗi giá trị. Khi đó, vốn ngoại mới thực sự trở thành lực đẩy nâng cấp nền sản xuất.

 

 

Trong bối cảnh thuế tối thiểu toàn cầu làm giảm vai trò của ưu đãi thuế, sức cạnh tranh trong thu hút FDI ngày càng phụ thuộc vào chất lượng thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực, hệ sinh thái nhà cung ứng và tính nhất quán của chính sách.

 

Đây là bài toán Hà Nội phải giải quyết khi bán dẫn, AI và trung tâm dữ liệu đều đặt ra yêu cầu khắt khe. Nhà đầu tư cần nguồn điện ổn định với công suất lớn, hạ tầng số đáp ứng tiêu chuẩn, quỹ đất phù hợp, nhân lực kỹ thuật và quy trình hành chính thông suốt.

 

Thực tế, một số doanh nghiệp FDI tại Hà Nội vẫn gặp khó khăn liên quan đến thủ tục môi trường, phòng cháy chữa cháy và các quy định đối với dự án công nghệ cao. Nguồn điện công suất lớn và hạ tầng số cho trung tâm dữ liệu chưa theo kịp yêu cầu. Đặc điểm đất chật, giá cao của một đô thị đặc biệt cũng tác động tới quyết định đầu tư. Thủ tục về đất đai, giải phóng mặt bằng và xây dựng tiếp tục là những điểm nghẽn cần tháo gỡ.

 

 

Ông Ozasa Haruhiko, Trưởng Văn phòng đại diện Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản tại Hà Nội kỳ vọng, trong giai đoạn phát triển mới, Hà Nội sẽ trở thành trung tâm kết nối giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, đồng thời tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư để thu hút thêm các dự án chất lượng cao.

 

Đại diện Tập đoàn Sumitomo nhận định, Quy hoạch Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm vừa là quy hoạch phát triển đô thị, vừa là định hướng chiến lược dài hạn cho nhiều thế hệ tương lai. Dự án Thành phố Thông minh Bắc Hà Nội đang được triển khai theo tiến độ với sự hỗ trợ của TP. Hà Nội trong giải phóng mặt bằng và các thủ tục phê duyệt.

 

“Sumitomo cam kết tiếp tục đẩy nhanh tiến độ phát triển dự án, đồng thời khẳng định môi trường đầu tư ổn định, tầm nhìn rõ ràng và cơ chế đối thoại xây dựng là nền tảng để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm gắn bó lâu dài với Thủ đô”, đại diện Tập đoàn Sumitomo chia sẻ.

 

TS. Lê Đình Huy, chuyên gia kinh tế tại Viện Nghiên cứu Chính sách phát triển bền vững nhận định, dòng vốn FDI vào Hà Nội giờ đây không còn mang tính “chớp cơ hội” mà đã chuyển sang hướng “kiến tạo giá trị dài hạn”. Đó là sự dịch chuyển từ gia công sang đổi mới sáng tạo, từ khai thác tài nguyên sang đầu tư trí tuệ.

 

Theo TS. Lê Đình Huy, yếu tố then chốt làm nên thành công của Hà Nội còn nằm ở cách Thành phố tái định vị trong chuỗi giá trị toàn cầu, cạnh tranh bằng hạ tầng thông minh, nguồn nhân lực chất lượng cao và hệ sinh thái đổi mới thay vì dựa vào chi phí thấp.

 

Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu khẳng định, mục tiêu của Hà Nội là lựa chọn các nhà đầu tư chiến lược, những dự án có khả năng dẫn dắt tăng trưởng, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hình thành các hệ sinh thái công nghiệp, đổi mới sáng tạo có sức cạnh tranh quốc tế.

 

TP. Hà Nội xác định tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, cải cách thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính, phát triển hạ tầng hiện đại, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hỗ trợ doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng. Thành phố cũng kiến nghị Trung ương có thêm chính sách ưu đãi đặc thù cho công nghệ số, bán dẫn và trung tâm dữ liệu; đồng thời tăng cường quản lý sau cấp phép, hỗ trợ nhà đầu tư hiện hữu mở rộng sản xuất.

 

Với Hà Nội, 25 tỷ USD FDI vì thế không phải chiếc đích duy nhất cần chạm tới. Phía sau con số là phép đo rộng hơn về chất lượng thể chế, khả năng hấp thụ công nghệ, sức trưởng thành của doanh nghiệp nội địa và vị trí của Thủ đô trong chuỗi giá trị toàn cầu.

 

Khi vốn ngoại được chuyển hóa thành công nghệ, nhân lực, đơn hàng và năng lực sản xuất mới, FDI mới thực sự trở thành động lực dài hạn. Khi doanh nghiệp Việt Nam tiến sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn toàn cầu, cuộc chuyển mình của kinh tế Thủ đô mới đạt tới giá trị cốt lõi: tăng trưởng nhanh hơn, chất lượng hơn và tự chủ hơn.

 

Hà Nội đang hướng tới mô hình tăng trưởng hiện đại, xanh và bền vững, gắn với thu hút các dòng vốn đầu tư chất lượng cao

 

Bình luận bài viết này
Hồ Hạ 13/09/2026 13:18