Với lợi thế tập trung các viện nghiên cứu, trường đại học và thị trường lớn, Hà Nội có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế dựa trên tri thức và công nghệ. Để lợi thế ấy tạo sức bật, kết quả nghiên cứu cần đến được với doanh nghiệp, sản phẩm cần tìm được khách hàng, còn dữ liệu phải giúp giải quyết công việc nhanh hơn, thuận tiện hơn.

 

Những chuyển động đang mở ra cơ hội mới: nghiên cứu từng bước gắn với đặt hàng, Hòa Lạc được định hướng trở thành hạt nhân đổi mới sáng tạo, dữ liệu được kết nối để phục vụ quản lý và giải quyết thủ tục. Tuy nhiên, khả năng hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp, tiến độ đưa nguồn vốn vào thực hiện và hiệu quả khai thác dữ liệu vẫn là những khâu cần tháo gỡ.

 

Khơi thông các nguồn lực này sẽ giúp Hà Nội đưa công nghệ vào sâu hơn trong sản xuất, kinh doanh. Sức bật tăng trưởng được bồi đắp từ những thay đổi cụ thể: doanh nghiệp làm chủ công nghệ, tạo thêm giá trị; người dân giảm thời gian, giấy tờ và chi phí khi giải quyết công việc.

 

 

Trong mức tăng GRDP ước đạt 8,85% của Hà Nội 9 tháng năm 2026, đóng góp của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang hiện lên rõ nét. Theo báo cáo chuyên đề của Thành phố, giá trị tăng thêm của các hoạt động thuộc phạm vi này ước chiếm 22,85% GRDP, đóng góp 2,58 điểm phần trăm, tương đương khoảng 29,2% mức tăng trưởng chung.

 

Riêng kinh tế số ước chiếm 16,69% GRDP, đóng góp khoảng 1,94 điểm phần trăm, tương đương gần 22% mức tăng trưởng. Những con số bước đầu cho thấy công nghệ đang tạo thêm giá trị trong sản xuất, kinh doanh và trở thành động lực ngày càng rõ của kinh tế Thủ đô.

 

Hai thước đo cần được nhìn nhận đúng: tỷ trọng trong GRDP thể hiện quy mô, còn đóng góp vào tăng trưởng phản ánh phần tham gia vào mức tăng của nền kinh tế trong kỳ. Với tỷ lệ đóng góp vào tăng trưởng cao hơn tỷ trọng quy mô, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cho thấy sức đóng góp vượt lên vị trí hiện có trong cơ cấu kinh tế.

 

Đối với hoạch định chính sách, điều cần làm rõ tiếp theo là công nghệ tạo thêm giá trị ở đâu, lan tỏa vào ngành nào và cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đến mức nào. Đó là căn cứ để lựa chọn ưu tiên, đưa nguồn lực tới những lĩnh vực có khả năng tạo chuyển biến.

 

Trong 9 tháng năm 2026, giá trị tăng thêm của kinh tế số lan tỏa, tức phần kinh tế số trong các ngành kinh tế, tăng 17,71% theo giá hiện hành so với cùng kỳ; kinh tế số lõi tăng 9,98%. Đà tăng này gợi mở khả năng công nghệ số đang thâm nhập sâu hơn vào sản xuất, phân phối và cung ứng dịch vụ.

 

 

Tuy nhiên, mức độ hiện diện giữa các ngành còn chênh lệch. Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước đạt 9,9%; bán buôn, bán lẻ và sửa chữa phương tiện đạt 15,9%; vận tải, kho bãi đạt 6,8%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 2,9%.

 

Các tỷ trọng này phản ánh kết quả theo phương pháp đo lường của báo cáo, cần được phân biệt với tỷ lệ doanh nghiệp đã chuyển đổi số. Qua đó, có thể thấy dư địa gia tăng hàm lượng công nghệ trong nhiều ngành còn lớn, từ quản trị sản xuất, kiểm soát chất lượng đến phân phối, logistics và dịch vụ. Khai thác dư địa ấy là hướng đi để mở rộng đóng góp của kinh tế số trên nền các hoạt động kinh tế hiện hữu.

 

Tiềm lực của Hà Nội còn được thể hiện qua Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương năm 2026. Theo báo cáo chuyên đề, Thành phố dẫn đầu cả nước với 63,80 điểm; các trụ cột về vốn con người và nghiên cứu, phát triển; trình độ phát triển của thị trường đạt điểm số cao. Trong khi đó, nhóm chỉ số “Tác động đến sản xuất kinh doanh” đạt 13,73 điểm.

 

Từ kết quả này, báo cáo nhận diện khoảng cách giữa năng lực tạo ra tri thức, công nghệ với khả năng hấp thụ, ứng dụng của doanh nghiệp và các ngành kinh tế. Tiềm lực nghiên cứu chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi được chuyển thành năng lực sản xuất, sản phẩm có thị trường và năng suất cao hơn. Chuyển giao, ứng dụng và thương mại hóa vì thế là những khâu cần tập trung tháo gỡ.

 

Với lợi thế về nghiên cứu, đào tạo và thị trường, Hà Nội cần kết nối các nguồn lực ngay từ khi hình thành nhiệm vụ. Nhu cầu doanh nghiệp phải trở thành căn cứ đặt hàng; đơn vị tiếp nhận cần tham gia sớm; sản phẩm nghiên cứu cần có điều kiện thử nghiệm, hoàn thiện và đưa vào sử dụng. Khi chuỗi liên kết ấy thông suốt, tri thức mới có thêm đường đến thị trường, công nghệ mới có thêm sức lan tỏa vào tăng trưởng.

 

 

Nhu cầu ứng dụng đang trở thành căn cứ để Hà Nội thúc đẩy đặt hàng, xét tài trợ nhiệm vụ khoa học và công nghệ, tăng cường kết nối với doanh nghiệp. Khi bài toán thực tiễn được xác định ngay từ đầu, hoạt động nghiên cứu có thêm cơ sở để hướng tới sản phẩm và thị trường.

 

Theo báo cáo tổng hợp của Thành phố, đến tháng 9/2026, Hà Nội tiếp nhận khoảng 160 đề xuất đặt hàng, xét tài trợ nhiệm vụ. Riêng phiên đặt hàng ngày 25/9 tiếp nhận 36 đề xuất từ 18 doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức, gắn với Danh mục 30 bài toán lớn của Thành phố.

 

Trong tháng 10, UBND Thành phố phê duyệt danh mục 3 nhiệm vụ khoa học, công nghệ đặt hàng trong năm 2026, với tổng mức trần kinh phí dự kiến 116 tỷ đồng, gồm 2 nhiệm vụ tuyển chọn và 1 nhiệm vụ dự kiến giao trực tiếp. Các nhiệm vụ theo mô hình Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp từng bước huy động nguồn lực đối ứng, hướng nghiên cứu vào khả năng chế tạo, thử nghiệm, ứng dụng và thương mại hóa.

 

Đó là những chuyển động từ khâu hình thành, lựa chọn nhiệm vụ. Để tạo hiệu quả kinh tế, mỗi nhiệm vụ cần xác định rõ trách nhiệm của các bên, đơn vị tiếp nhận và điều kiện đưa sản phẩm vào sử dụng. Địa chỉ ứng dụng càng rõ, quá trình nghiên cứu càng có cơ sở bám sát yêu cầu thực tế.

 

Từ kết quả nghiên cứu đến sản phẩm thương mại là hành trình cần sự tham gia liên tục của nhà khoa học và doanh nghiệp. Sản phẩm có thể cần thêm thời gian thử nghiệm, hoàn thiện quy trình, chứng minh hiệu quả; doanh nghiệp tiếp nhận cần nhân lực, nguồn lực và phương án thị trường phù hợp. Sự liên kết vì thế phải được duy trì qua từng giai đoạn triển khai.

 

Chủ tịch UBND Thành phố yêu cầu lựa chọn trong 30 bài toán lớn những nhiệm vụ có nhu cầu ứng dụng, cơ quan tiếp nhận và doanh nghiệp cùng thực hiện; tổ chức liên thông từ đặt hàng, tài trợ đến thử nghiệm, chuyển giao và thương mại hóa.

 

Cùng với đó là hoàn thiện điều kiện hoạt động của các quỹ, tháo gỡ vướng mắc về sở hữu trí tuệ, định giá và chuyển giao. Những khâu này quyết định điều kiện khai thác kết quả nghiên cứu, xác lập lợi ích của các bên và tạo cơ sở đưa công nghệ ra thị trường.

 

Trong chuỗi liên kết ấy, Hòa Lạc được đặt vào vị trí hạt nhân đổi mới sáng tạo, gắn đào tạo, nghiên cứu, thử nghiệm với sản xuất công nghệ cao. Khả năng kết nối các hoạt động này sẽ góp phần định hình chiều sâu phát triển của khu công nghệ cao.

 

Theo tham luận của Ban Quản lý các Khu công nghệ cao và Khu công nghiệp thành phố Hà Nội, công tác giải phóng mặt bằng Khu Công nghệ cao Hòa Lạc đạt 94,98%. Ban Quản lý đã đề xuất 7 dự án hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số, hạ tầng xã hội và hạ tầng công nghệ, với tổng mức vốn khoảng 8.284 tỷ đồng, làm cơ sở để Thành phố cân đối, bố trí nguồn lực trong giai đoạn tới.

 

Không gian đổi mới sáng tạo HITC Hub đã được khởi động với 3 biên bản ghi nhớ hợp tác được ký kết. Ban Quản lý cũng hướng dẫn các tổ chức, doanh nghiệp xây dựng hồ sơ thử nghiệm có kiểm soát trong các lĩnh vực giao thông thông minh, phương tiện tự hành và chế biến đất hiếm.

 

 

Tuy nhiên, chuỗi liên thông đào tạo, nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm và thương mại hóa chưa hình thành đầy đủ. Nhà lưu trú chuyên gia, phòng thí nghiệm dùng chung và không gian thử nghiệm còn thiếu đồng bộ. Việc có nhiều chủ thể đầu tư hạ tầng cũng đặt ra yêu cầu điều phối thống nhất về tiêu chuẩn, tiến độ và cơ chế vận hành.

 

Hiệu quả sử dụng đất là một khâu cần tháo gỡ. Ban Quản lý đã rà soát 49 dự án chậm tiến độ, chưa hiệu quả; tại thời điểm báo cáo, đã thu hồi hoặc giảm diện tích 7 dự án và đang tiến hành thu hồi 4 dự án. Quá trình này nhằm từng bước giải phóng quỹ đất cho các dự án có chất lượng, giá trị gia tăng cao hơn.

 

Phát triển Hòa Lạc vì thế đòi hỏi sự đồng bộ giữa mặt bằng, hạ tầng, phòng thí nghiệm, nhân lực và cơ chế hỗ trợ. Mỗi cấu phần cần góp phần tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận công nghệ, thử nghiệm sản phẩm và mở rộng sản xuất. Hiệu quả của từng dự án cũng cần được đặt trong khả năng kết nối, bổ trợ cho cả hệ sinh thái.

 

Theo chỉ đạo của Chủ tịch UBND Thành phố, thu hút dự án vào Hòa Lạc phải gắn với chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và sự tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi giá trị. Ban Quản lý được yêu cầu hoàn thiện phương án quản trị, làm rõ trách nhiệm quản lý nhà nước và phát triển, vận hành hạ tầng.

 

Khi các mắt xích được kết nối thông suốt, Hòa Lạc sẽ có thêm điều kiện để đưa nghiên cứu đến gần sản xuất. Giá trị của không gian công nghệ cao được bồi đắp từ những sản phẩm có thị trường, năng lực công nghệ được nâng lên và quan hệ hợp tác bền vững giữa nhà khoa học với doanh nghiệp.

 

 

Cùng với nghiên cứu và thương mại hóa công nghệ, dữ liệu đang mở thêm dư địa đổi mới quản trị và phục vụ hoạt động kinh tế. Giá trị của nguồn lực này được thể hiện khi thông tin được khai thác tin cậy, giúp quyết định chính xác hơn và giải quyết công việc thuận tiện hơn.

 

Trong lĩnh vực đất đai, theo tham luận của Sở Nông nghiệp và Môi trường, hơn 4,8 triệu thửa đất đã được xây dựng cơ sở dữ liệu, đạt 99,6% tổng số thửa đất trên bản đồ của Thành phố. Hơn 2,8 triệu thửa được chuẩn hóa đạt tiêu chí nhóm 1 “Đúng - Đủ - Sạch - Sống”.

 

Đây là hai mức độ hoàn thiện cần được phân biệt. Xây dựng cơ sở dữ liệu tạo nền tảng thông tin; chuẩn hóa, đối khớp và cập nhật bảo đảm độ tin cậy để đưa thông tin vào sử dụng. Dữ liệu càng đầy đủ, chính xác và được duy trì thường xuyên, khả năng phục vụ quản lý càng được củng cố.

 

Sở đã bàn giao toàn bộ bản đồ được biên tập cho 126 xã, phường, đồng thời phối hợp kết nối, chia sẻ dữ liệu với Kho dữ liệu dùng chung của Thành phố. Thông tin bản đồ, thuộc tính thửa đất, hồ sơ pháp lý và dữ liệu dân cư được liên kết, mở ra khả năng khai thác một nền bản đồ thống nhất cho nhiều lĩnh vực quản lý.

 

Bước tiếp theo là đưa nguồn thông tin ấy vào giải quyết công việc. Khi dữ liệu bảo đảm chất lượng và được khai thác đúng thẩm quyền, cơ quan xử lý có thêm căn cứ đối chiếu, từ đó rà soát, cắt giảm yêu cầu người dân cung cấp lại thông tin đã có. Giá trị của số hóa vì thế cần được thể hiện trong từng quy trình, từng hồ sơ.

 

Tuy nhiên, từ kết nối kỹ thuật đến khai thác thực tế vẫn còn những khâu cần tháo gỡ.

 

 

Theo Trung tâm Phục vụ hành chính công Thành phố, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính đã kết nối kỹ thuật với 13 cơ sở dữ liệu, nhưng mới khai thác trực tiếp được 3 cơ sở dữ liệu. Việc khai thác 10 cơ sở dữ liệu còn lại phụ thuộc vào sự cho phép chia sẻ của các bộ, ngành chủ quản.

 

Một số dữ liệu chưa được chia sẻ hoặc chưa đầy đủ, chính xác khiến người dân vẫn phải bổ sung giấy tờ. Trong lĩnh vực đất đai, liên thông giữa công chứng, thuế, ngân hàng và đăng ký đất đai chưa đầy đủ; triển khai Giấy chứng nhận điện tử và thanh toán phí, lệ phí trực tuyến còn vướng mắc.

 

Những điểm nghẽn ấy ảnh hưởng trực tiếp tới thời gian, chi phí thực hiện thủ tục. Hồ sơ được tiếp nhận trực tuyến vẫn có thể phát sinh việc đi lại khi người dân phải chứng thực trực tiếp hoặc bổ sung giấy tờ đối chiếu. Mức độ thuận tiện cần được đánh giá trên toàn bộ hành trình giải quyết công việc.

 

Trung tâm đã phối hợp xây dựng phương án tái cấu trúc 293 thủ tục hành chính thiết yếu, theo hướng thay thế 72 loại giấy tờ bằng dữ liệu; chuyển 95 thủ tục từ yêu cầu bản sao có chứng thực sang bản sao thông thường. Theo tính toán của phương án, chi phí tuân thủ dự kiến giảm khoảng 1.653 tỷ đồng mỗi năm.

 

Để mức tiết kiệm dự kiến trở thành lợi ích thực tế, các phương án cần được đưa vào vận hành đầy đủ. Trung tâm nhìn nhận một số phương án đã phê duyệt chưa được triển khai đầy đủ trên hệ thống; hiệu quả giảm thời gian và chi phí vẫn cần tiếp tục kiểm chứng qua quá trình giải quyết hồ sơ.

 

Đề án “Sổ đỏ trao tay”, được UBND Thành phố phê duyệt ngày 23/9/2026, là một hướng cải cách đang được chuẩn bị. Đề án hướng tới thực hiện trực tuyến toàn trình đối với hai nhóm thủ tục: đính chính Giấy chứng nhận đã cấp do sai sót của cơ quan nhà nước; chỉnh lý, đăng ký biến động, cấp Giấy chứng nhận đối với phần diện tích còn lại sau giải phóng mặt bằng.

 

Trung tâm Phục vụ hành chính công Thành phố đang phối hợp hoàn thiện quy trình, cấu hình, kiểm thử và chuẩn bị điều kiện kết nối, khai thác dữ liệu. Thước đo kết quả sẽ nằm ở số giấy tờ, lượt đi lại và thời gian thực tế được cắt giảm. Đó cũng là cơ sở để đánh giá khả năng chuyển dữ liệu thành chất lượng phục vụ.

 

Trong hoạt động giám sát, dữ liệu được đặt vào yêu cầu nâng cao chất lượng quyết định và trách nhiệm giải trình. Tham luận của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND Thành phố xác định Kho dữ liệu dân cử dùng chung kết nối ba dòng thông tin: nội dung HĐND đã quyết định, kết quả cơ quan hành chính thực hiện và những vấn đề cử tri phản ánh.

 

Mô hình đang được thử nghiệm, ưu tiên dữ liệu về nghị quyết, giám sát, kiến nghị cử tri, thu - chi ngân sách và đầu tư công. Việc kết nối hướng tới cung cấp căn cứ để đại biểu đối chiếu, nhận diện vấn đề và yêu cầu giải trình, qua đó theo dõi sát hơn quá trình thực hiện các quyết định.

 

Ở khu dân cư, tham luận MTTQ Thành phố nhấn mạnh yêu cầu phân biệt kiến nghị đã được trả lời với kiến nghị đã được giải quyết; đồng thời hỗ trợ người cao tuổi, người khuyết tật, người hạn chế kỹ năng số tiếp cận dịch vụ. Hiệu quả chuyển đổi số, từ góc nhìn này, cần được đo bằng khả năng người dân sử dụng dịch vụ và những vấn đề thực tế được giải quyết đến cùng.

 

 

Để công nghệ tạo thêm giá trị, nguồn lực tài chính cần được triển khai đúng tiến độ, đáp ứng nhu cầu thực tế và gắn với địa chỉ sử dụng kết quả. Quy mô đầu tư tạo điều kiện phát triển; chất lượng thực hiện quyết định khả năng chuyển nguồn lực thành hiệu quả kinh tế.

 

Theo báo cáo của Sở Tài chính, Hà Nội bố trí 9.090,399 tỷ đồng trong năm 2026 cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đến ngày 18/10, kinh phí đã phân bổ đạt 8.875,056 tỷ đồng, tương đương 97,63%.

 

Tổng dự toán được giao làm cơ sở tính tỷ lệ giải ngân, bao gồm kinh phí chuyển nguồn từ năm 2025, là 9.925,851 tỷ đồng. Số đã giải ngân đạt 4.085,341 tỷ đồng, tương đương 41,16%; trong đó, chi đầu tư đạt 53,37%, chi thường xuyên đạt 26,28%.

 

 

Khoảng cách giữa phân bổ và giải ngân đặt ra yêu cầu đẩy nhanh tổ chức thực hiện. Tiến độ giữa các nhóm nguồn lực cũng chưa đồng đều: trong chi thường xuyên, khối cơ quan thuộc Thành phố giải ngân đạt 23,33%, còn khối xã, phường đạt 61,93%.

 

Báo cáo tổng hợp chỉ ra một số nhiệm vụ có tính chất mới, chưa có định mức, đơn giá hoặc phương thức xác định chi phí phù hợp. Việc lập yêu cầu kỹ thuật, lấy báo giá, dự toán mua sắm, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu và thanh toán đối với phần mềm, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và sản phẩm công nghệ chuyên biệt còn khó khăn.

 

Báo cáo chuyên đề cũng lưu ý các dự án lớn, lần đầu triển khai phải trải qua thử nghiệm, kiểm thử, dùng thử mới đủ điều kiện thanh toán. Tháo gỡ những vướng mắc này cần bám sát đặc thù từng nhiệm vụ, xác định đúng khâu ách tắc và trách nhiệm xử lý.

 

Thúc đẩy giải ngân phải đi cùng bảo đảm chất lượng sản phẩm và khả năng đưa vào sử dụng. Riêng nhiệm vụ nghiên cứu cần được đánh giá phù hợp với tính chất, rủi ro và từng giai đoạn triển khai, vừa giữ kỷ luật tài chính, vừa tạo điều kiện cho sáng tạo.

 

Theo yêu cầu của Chủ tịch UBND Thành phố, mỗi đề xuất phải rõ sản phẩm, đơn vị sử dụng kết quả, tổng chi phí và hiệu quả dự kiến. Dự toán năm 2027 phải bám sát ưu tiên phát triển, khắc phục đầu tư trùng lặp, phát huy hạ tầng dùng chung và thu hút doanh nghiệp cùng đầu tư. Đây là cơ sở để gắn quyết định phân bổ nguồn lực với nhu cầu và khả năng ứng dụng.

 

Sở Tài chính được giao chủ trì, phối hợp làm rõ vướng mắc về cơ chế, định mức, quy trình và trách nhiệm thực hiện; trước ngày 31/10/2026 báo cáo phương án phân bổ kinh phí còn lại, điều chỉnh nguồn lực đối với nhiệm vụ không bảo đảm khả năng thực hiện, trình cấp có thẩm quyền quyết định.

 

 

Với nhiệm vụ ưu tiên năm 2027, Sở Khoa học và Công nghệ được giao chủ trì xây dựng danh mục gắn với mục tiêu trung hạn, báo cáo trước ngày 15/11/2026. Các sở, ngành cùng lựa chọn nhiệm vụ trong công nghiệp, thương mại, logistics, du lịch, làm rõ doanh nghiệp tham gia, nguồn lực và sản phẩm.

 

Đặt nhiệm vụ công nghệ trong nhu cầu phát triển ngành sẽ giúp xác định sát hơn bài toán cần giải quyết. Từ sản xuất, phân phối, vận chuyển đến cung ứng dịch vụ, mỗi đề xuất cần chỉ ra công nghệ có thể cải thiện khâu nào, sản phẩm được sử dụng ở đâu và hiệu quả kỳ vọng ra sao.

 

Cùng với nguồn vốn là trách nhiệm thực hiện. Người đứng đầu phải trực tiếp xử lý điểm nghẽn, chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng; chất lượng, tiến độ và hiệu quả là căn cứ đánh giá. Trong khai thác dữ liệu, từng đơn vị phải bảo đảm chất lượng, cập nhật và phân quyền sử dụng.

 

Mở rộng kết nối, ứng dụng trí tuệ nhân tạo cũng phải đi cùng an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và duy trì hệ thống hoạt động liên tục. Sự tin cậy là điều kiện để người dân, doanh nghiệp sử dụng các tiện ích số lâu dài, qua đó phát huy giá trị của hạ tầng đã đầu tư.

 

 

Hà Nội đã có những nền tảng quan trọng cho tăng trưởng dựa trên công nghệ. Kết quả đo lường bước đầu cho thấy đóng góp của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; hoạt động đặt hàng, hạ tầng Hòa Lạc và dữ liệu dùng chung đang mở thêm điều kiện phát triển.

 

Để những nền tảng ấy tạo sức bật, cần duy trì sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và đơn vị sử dụng trong suốt quá trình thực hiện. Nghiên cứu phải bám nhu cầu ứng dụng, ngân sách gắn với khả năng triển khai, dữ liệu phục vụ giải quyết công việc.

 

Giá trị của công nghệ sẽ hiện rõ hơn khi doanh nghiệp nâng được năng lực sản xuất, sản phẩm tìm được thị trường, người dân giảm giấy tờ, thời gian và chi phí. Từ những kết quả cụ thể ấy, tiềm lực khoa học và công nghệ của Thủ đô mới có thể chuyển thành sức bật tăng trưởng bền vững.

Hỗ trợ đến 100% chi phí đầu tư hạ tầng khoa học, công nghệ

 

Theo Quyết định số 148/2026/QĐ-UBND ngày 19/10/2026, Hà Nội hỗ trợ 100% chi phí đầu tư mới, nâng cấp hạ tầng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của các tổ chức thuộc Thành phố; hỗ trợ 100% chi phí vận hành hạ tầng do Thành phố đầu tư mới trong 3 năm đầu.

 

Mức hỗ trợ đầu tư tối đa 50% áp dụng với trung tâm nghiên cứu và phát triển công lập, phòng thí nghiệm, cơ sở ươm tạo thuộc đơn vị công lập và doanh nghiệp nhà nước không thuộc Thành phố; tối đa 30% với phòng thí nghiệm thuộc đại học tư thục, tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập, doanh nghiệp tư nhân.

 

Thành phố còn hỗ trợ kiểm định, hiệu chuẩn thiết bị, vận hành sàn giao dịch công nghệ; đào tạo, kết nối chuyên gia, nhà đầu tư và xúc tiến thương mại công nghệ.

 

Bình luận bài viết này
Hồ Hạ 28/10/2026 10:30