Hà Nội chuyển từ hỗ trợ đào tạo riêng lẻ sang đầu tư nhân lực theo nhu cầu phát triển. Từ lựa chọn người học, xác định bài toán nghiên cứu đến sử dụng sau đào tạo, chính sách mới đặt ra yêu cầu biến nguồn lực dành cho con người thành kết quả cụ thể.

Một suất học bổng có thể giúp thêm một người sở hữu bằng cấp cao, nhưng chưa chắc tạo ra lời giải cho vấn đề Thành phố đang cần. Một đề tài có thể được nghiệm thu đúng hạn, nhưng chưa chắc tìm được đơn vị tiếp nhận. Một chuyên gia có thể được đưa vào mạng lưới, nhưng chưa chắc đã được giao nhiệm vụ cụ thể để phát huy năng lực.
Khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng đang đặt ra yêu cầu thay đổi cách Hà Nội đầu tư cho nguồn nhân lực chất lượng cao. Thay vì hỗ trợ theo nhu cầu riêng lẻ, nguồn lực sẽ được tập trung cho các lĩnh vực ưu tiên, chương trình đào tạo tiên tiến và hoạt động nghiên cứu hướng tới những bài toán lớn của Thủ đô.
Ngày 15/6/2026, HĐND TP. Hà Nội ban hành Nghị quyết số 57/2026/NQ-HĐND quy định một số chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, cụ thể hóa các quy định của Luật Thủ đô năm 2026 về đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, sử dụng và phát huy nguồn nhân lực.
Tiếp đó, ngày 14/7/2026, UBND TP. Hà Nội ban hành Kế hoạch số 276/KH-UBND triển khai Nghị quyết. Kế hoạch yêu cầu gắn đào tạo, nghiên cứu, thu hút và sử dụng nhân lực với phát triển kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và yêu cầu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Theo Sở Nội vụ Hà Nội, điểm chuyển căn bản của chính sách là “từ hỗ trợ đào tạo theo nhu cầu riêng lẻ sang đầu tư có trọng tâm, trọng điểm và gắn đào tạo với nhu cầu phát triển của Thành phố”.
Điều đó có nghĩa, ngân sách dành cho nhân lực không dừng ở việc hỗ trợ nâng cao trình độ hoặc bổ sung văn bằng. Hoạt động đào tạo phải bắt đầu từ nhu cầu phát triển, vị trí việc làm và lĩnh vực ưu tiên. Đề tài nghiên cứu phải hướng tới vấn đề cụ thể. Người thụ hưởng chính sách có trách nhiệm sử dụng kiến thức, năng lực để đóng góp trở lại cho Hà Nội.
Cách tiếp cận mới đặt ra một câu hỏi xuyên suốt: Hà Nội làm thế nào để mỗi khoản đầu tư cho đào tạo tạo ra một năng lực, sản phẩm hoặc lời giải mà Thành phố thực sự cần?
Để trả lời, Thành phố sẽ xây dựng ba nhóm danh mục làm căn cứ triển khai chính sách.
Nhóm thứ nhất là danh mục ngành ưu tiên đào tạo sau đại học, phục vụ việc hỗ trợ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động nâng cao trình độ chuyên môn.
Nhóm thứ hai là danh mục các bài toán lớn của Thành phố, làm căn cứ tuyển chọn, hỗ trợ nghiên cứu sinh học tập, nghiên cứu khoa học. Theo Sở Nội vụ Hà Nội, đây là những vấn đề có tính liên ngành, quy mô lớn, tác động sâu rộng, cần huy động tri thức khoa học và nguồn nhân lực chất lượng cao tham gia giải quyết.
Nhóm thứ ba gồm các ngành, nghề, lĩnh vực trọng điểm và những ngành, nghề tiếp cận trình độ tiên tiến của khu vực, thế giới, làm căn cứ hỗ trợ học phí đối với người học trình độ trung cấp, cao đẳng.
Theo Sở Nội vụ Hà Nội: Điểm chuyển căn bản là từ hỗ trợ đào tạo theo nhu cầu riêng lẻ sang đầu tư có trọng tâm, trọng điểm và gắn đào tạo với nhu cầu phát triển của Thành phố.
Việc xác định các danh mục phải được đặt trong tổng thể chiến lược, quy hoạch và mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của Thủ đô. Hà Nội ưu tiên những lĩnh vực có vai trò dẫn dắt về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và những vấn đề cấp thiết, liên ngành, tác động lớn tới sự phát triển.
Kế hoạch số 276/KH-UBND phân công Sở Nội vụ tham mưu lĩnh vực ưu tiên đào tạo đối với đội ngũ trong khu vực công; Sở Giáo dục và Đào tạo xây dựng danh mục ngành, nghề trọng điểm, hướng dẫn chính sách học bổng và hỗ trợ học phí; Sở Khoa học và Công nghệ tham mưu danh mục bài toán lớn, xây dựng quy trình hỗ trợ nghiên cứu sinh và quản lý việc ứng dụng kết quả nghiên cứu.
Sự phân công này bước đầu tạo nên một chu trình đầu tư nhân lực, bắt đầu từ xác định nhu cầu, lựa chọn ngành ưu tiên, tuyển chọn người học, theo dõi đào tạo đến đánh giá sản phẩm đầu ra và kết nối sử dụng sau đào tạo.
Đối với cán bộ, công chức, viên chức, chương trình đào tạo phải gắn với vị trí việc làm và hiệu quả công vụ. Khi hoạt động quản lý ngày càng được thực hiện trên môi trường số, đội ngũ cán bộ cần năng lực sử dụng công nghệ, quản trị dữ liệu, bảo vệ thông tin và phối hợp xử lý những vấn đề liên ngành.
Đối với học sinh, sinh viên, chính sách học tập, nghiên cứu ở nước ngoài hướng tới mở rộng cơ hội tiếp cận những chương trình tiên tiến, đồng thời bổ sung nguồn nhân lực trẻ cho các lĩnh vực Hà Nội đang cần.
Với nghiên cứu sinh, yêu cầu đầu ra cao hơn việc hoàn thành một văn bằng. Đề tài phải gắn với bài toán của Thành phố, sản phẩm nghiên cứu có thể kiểm chứng và có triển vọng ứng dụng trong quản lý, sản xuất hoặc đời sống.
Ba nhóm danh mục định hướng đầu tư nhân lực:
+ Ngành ưu tiên đào tạo sau đại học: Làm căn cứ hỗ trợ đào tạo đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.
+ Bài toán lớn của TP. Hà Nội: Làm căn cứ tuyển chọn, hỗ trợ nghiên cứu sinh học tập, nghiên cứu khoa học và tạo ra sản phẩm phục vụ Thành phố.
+ Ngành, nghề, lĩnh vực trọng điểm: Làm căn cứ hỗ trợ học phí trình độ trung cấp, cao đẳng, ưu tiên những ngành, nghề tiếp cận trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới.

Cùng thời điểm triển khai chính sách nhân lực, UBND TP. Hà Nội ban hành Kế hoạch số 274/KH-UBND ngày 11/7/2026 về thông tin, tuyên truyền đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hai năm 2026, 2027.
Kế hoạch xác định năm lĩnh vực trọng tâm cần tuyên truyền về ứng dụng khoa học và công nghệ gồm trật tự đô thị, ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, úng ngập và vệ sinh an toàn thực phẩm. Đây đều là những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống, hiệu quả quản trị, môi trường đầu tư và năng lực cạnh tranh của Thủ đô.
Tuy nhiên, cần phân biệt năm lĩnh vực trọng tâm này với danh mục “bài toán lớn” được sử dụng làm căn cứ hỗ trợ nghiên cứu sinh.
Theo Kế hoạch số 276/KH-UBND, danh mục bài toán lớn vẫn phải được Sở Khoa học và Công nghệ cùng các cơ quan liên quan tham mưu xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành. Năm điểm nghẽn vì thế chưa mặc nhiên trở thành danh mục bài toán đặt hàng chính thức, mà mới gợi mở những nhóm vấn đề thực tiễn Hà Nội cần ưu tiên nghiên cứu, ứng dụng công nghệ.
Kế hoạch số 274/KH-UBND đề cập một số hướng giải pháp như hệ thống giám sát, xử lý vi phạm trật tự đô thị bằng camera AI; hệ thống quan trắc, cảnh báo môi trường; công nghệ giám sát, dự báo úng ngập; nền tảng truy xuất nguồn gốc và kiểm soát an toàn thực phẩm.
Những định hướng này cho thấy nhu cầu nhân lực của Hà Nội ngày càng mang tính liên ngành. Thành phố cần đội ngũ vừa hiểu chuyên môn, vừa có khả năng làm chủ công nghệ và nắm bắt yêu cầu quản lý.
Camera AI khó tạo ra chuyển biến nếu dữ liệu thiếu kết nối hoặc kết quả phân tích không được chuyển thành phương án xử lý. Hệ thống cảnh báo úng ngập khó phát huy hiệu quả nếu thiếu dữ liệu đầu vào, phương thức phối hợp và đơn vị chịu trách nhiệm phản ứng. Nền tảng truy xuất nguồn gốc cũng khó vận hành nếu thông tin không chính xác hoặc các chủ thể trong chuỗi cung ứng không cùng tham gia.
Công nghệ vì thế mới là công cụ. Con người vẫn là chủ thể xác định bài toán, xây dựng giải pháp, kiểm chứng kết quả và tổ chức ứng dụng.
Để kết quả nghiên cứu đi vào thực tiễn, mỗi bài toán cần được cụ thể hóa bằng phạm vi, dữ liệu đầu vào, sản phẩm đầu ra, cơ quan tiếp nhận và khả năng triển khai. Một đề tài có giá trị học thuật chưa chắc phù hợp ngay với điều kiện quản lý. Ngược lại, một giải pháp xuất phát từ nhu cầu thực tế, có địa chỉ sử dụng và khả năng thử nghiệm có thể mang lại giá trị trực tiếp cho Thành phố.
Đây là lý do Kế hoạch số 274/KH-UBND đề cao mô hình hợp tác giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển công nghệ, ứng dụng và thương mại hóa kết quả.
Trong mối liên kết này, cơ quan nhà nước xác định nhu cầu và tạo hành lang chính sách; trường đại học, viện nghiên cứu cung cấp tri thức, nhân lực; doanh nghiệp đưa công nghệ vào sản phẩm, dịch vụ và thị trường. Nếu ba chủ thể cùng tham gia từ thời điểm xác định bài toán, khả năng công trình được tiếp nhận, thử nghiệm và triển khai sẽ cao hơn.
Nghiên cứu sinh được hỗ trợ vì thế không đơn thuần hoàn thành một chương trình đào tạo. Họ được kỳ vọng trở thành cầu nối đưa tri thức từ trường đại học, viện nghiên cứu vào hoạt động quản lý, sản xuất và giải quyết những vấn đề của Thủ đô.
Song, cơ chế “đặt hàng” hiện mới được định hình qua nguyên tắc gắn đào tạo, nghiên cứu với nhu cầu phát triển và danh mục bài toán lớn. Danh mục, tiêu chí lựa chọn, quy trình hỗ trợ cùng cơ chế tiếp nhận kết quả vẫn phải tiếp tục được cụ thể hóa.
Năm lĩnh vực trọng tâm ứng dụng khoa học và công nghệ: Trật tự đô thị, ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, úng ngập, vệ sinh an toàn thực phẩm.

Hiệu quả của chính sách nhân lực phụ thuộc trước hết vào chất lượng tuyển chọn. Nếu lựa chọn sai người, xác định sai nhu cầu hoặc đào tạo không gắn với vị trí sử dụng, nguồn lực đầu tư khó mang lại kết quả như kỳ vọng.
Nghị quyết số 57/2026/NQ-HĐND đặt ra nguyên tắc công khai, minh bạch, đúng đối tượng và đúng điều kiện. Việc lựa chọn người thụ hưởng phải căn cứ tiêu chuẩn của từng chính sách, nhu cầu đào tạo, lĩnh vực ưu tiên, bài toán lớn và chỉ tiêu được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
UBND TP. Hà Nội giao Sở Nội vụ, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ xây dựng quy trình đối với từng nhóm chính sách, cụ thể hóa phương thức xét chọn, trình tự thực hiện và trách nhiệm của các cơ quan liên quan.
Tuyển đúng người mới là điểm khởi đầu. Quá trình đào tạo, nghiên cứu được theo dõi thông qua trách nhiệm của ba chủ thể gồm người học, cơ sở đào tạo và cơ quan quản lý hoạt động hỗ trợ.
Người học phải tuân thủ quy định, báo cáo kết quả và hoàn thành chương trình đúng thời hạn. Cơ sở đào tạo quản lý tiến độ, xác nhận báo cáo định kỳ và thông báo những thay đổi có thể ảnh hưởng đến điều kiện hỗ trợ, như thay đổi đề tài, người hướng dẫn, tạm dừng hoặc gia hạn đào tạo, vi phạm liêm chính học thuật. Cơ quan quản lý theo dõi trong và sau thời gian hỗ trợ, kiểm tra việc đáp ứng điều kiện và xử lý trường hợp vi phạm.
Đối với nghiên cứu sinh tham gia giải quyết bài toán lớn, đầu ra được đánh giá thông qua báo cáo khoa học, công bố quốc tế, kết quả nghiên cứu và khả năng ứng dụng.
Sau khi hoàn thành chương trình, nghiên cứu sinh được kết nối với mạng lưới chuyên gia khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Hà Nội để tham gia tư vấn, phản biện, cung cấp luận cứ khoa học khi Thành phố có nhu cầu.
Cơ chế này góp phần duy trì mối liên hệ giữa người được hỗ trợ và Thành phố. Tuy nhiên, mạng lưới chuyên gia chỉ phát huy giá trị khi thành viên được giao nhiệm vụ cụ thể, có cơ chế tiếp nhận ý kiến và điều kiện tham gia giải quyết vấn đề thực tế.
Thách thức của chính sách không nằm riêng ở câu chuyện đào tạo được bao nhiêu tiến sĩ, kỹ sư hay lao động kỹ thuật. Câu hỏi quyết định là sau đào tạo, họ làm việc ở đâu, được giao nhiệm vụ gì và có môi trường phù hợp để phát huy năng lực hay không.
Nghị quyết quy định nghĩa vụ tương ứng với từng nhóm đối tượng. Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động được cử đi học phải thực hiện thời gian phục vụ sau đào tạo. Học sinh, sinh viên được hỗ trợ học tập, nghiên cứu ở nước ngoài phải trở về nước làm việc theo cam kết. Nghiên cứu sinh có trách nhiệm tham gia mạng lưới chuyên gia và hoạt động chuyên môn khi Thành phố yêu cầu.
Chính sách đồng thời quy định các trường hợp phải đền bù, bồi hoàn kinh phí. Người được hỗ trợ có thể phải hoàn trả nếu tự ý bỏ học, gian lận hồ sơ, vi phạm liêm chính học thuật, không hoàn thành chương trình hoặc không thực hiện nghĩa vụ sau đào tạo.
Đây là cơ chế cần thiết để bảo vệ ngân sách nhà nước và nâng cao trách nhiệm của người thụ hưởng. Tuy nhiên, nghĩa vụ phục vụ mới là điều kiện tối thiểu. Muốn người giỏi đóng góp lâu dài, Hà Nội cần tạo môi trường làm việc, cơ hội phát triển, nhiệm vụ đủ sức thử thách và cơ chế ghi nhận tương xứng.
Người được đào tạo bằng công nghệ hiện đại sẽ khó phát huy nếu trở về làm việc trong quy trình cũ hoặc không có điều kiện áp dụng kiến thức. Nhà khoa học khó tạo ra sản phẩm có giá trị nếu đề tài không có địa chỉ tiếp nhận. Nhân lực trẻ cũng khó gắn bó nếu năng lực và kết quả làm việc không trở thành căn cứ bố trí, đánh giá và phát triển nghề nghiệp.
Đào tạo, thu hút và sử dụng vì thế phải được nhìn nhận như một chu trình thống nhất. Đầu tư cho người giỏi cần đi cùng đầu tư cho môi trường để họ làm việc.
Ba chủ thể theo dõi quá trình đào tạo:
+ Người học: Tuân thủ quy định, báo cáo kết quả và hoàn thành chương trình đúng thời hạn.
+ Cơ sở đào tạo: Quản lý tiến độ, xác nhận báo cáo và thông báo những thay đổi ảnh hưởng đến điều kiện hỗ trợ.
+ Cơ quan quản lý: Theo dõi trong và sau quá trình hỗ trợ, kiểm tra việc đáp ứng điều kiện và xử lý trường hợp vi phạm.

Một đô thị thông minh không thể chỉ dựa vào nhóm chuyên gia trình độ cao. Thành phố còn cần đội ngũ cán bộ có khả năng thực thi chính sách trên môi trường số, doanh nghiệp biết ứng dụng công nghệ và người dân đủ kỹ năng sử dụng dịch vụ.
Kế hoạch số 274/KH-UBND đặt mục tiêu tiến tới toàn bộ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Thành phố được đào tạo, bồi dưỡng về công nghệ và kỹ năng số.
Hà Nội phấn đấu tối thiểu 90% người dân được tiếp cận thông tin về dịch vụ số và kỹ năng số; 100% hộ nghèo, cận nghèo được hướng dẫn kỹ năng số cơ bản; 100% thành viên tổ chuyển đổi số cộng đồng được bồi dưỡng để hỗ trợ người dân.
Mỗi xã, phường được định hướng xây dựng kênh tiếp nhận sáng kiến, ý tưởng của người dân, doanh nghiệp. Nội dung hướng dẫn phải dễ hiểu, dễ tiếp cận và phù hợp với từng nhóm đối tượng. Người cao tuổi, người ít tiếp cận công nghệ được ưu tiên hỗ trợ trực tiếp.
Những mục tiêu này cho thấy Hà Nội vừa hướng tới nâng cao chất lượng đội ngũ trình độ cao, vừa mở rộng nền kỹ năng số trong xã hội. Khoảng cách số chỉ có thể được thu hẹp khi công nghệ đi cùng năng lực sử dụng và người yếu thế không bị bỏ lại phía sau.
Tuy nhiên, phổ cập kỹ năng hay tổ chức đào tạo mới là đầu vào. Điều quan trọng hơn là khả năng vận dụng sau đào tạo.
Nghị quyết số 57/2026/NQ-HĐND chưa quy định một bộ chỉ tiêu định lượng riêng cho từng năm hoặc từng giai đoạn. Theo Sở Nội vụ Hà Nội, việc đánh giá sẽ tập trung vào quy mô, cơ cấu đối tượng thụ hưởng; chất lượng, tiến độ đào tạo; sản phẩm nghiên cứu; mức độ hoàn thành nghĩa vụ; hiệu quả sử dụng kinh phí và khả năng đóng góp vào giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn.
Đối với nghiên cứu sinh, kết quả có thể được xem xét qua số người được hỗ trợ theo từng bài toán lớn, công bố khoa học, tỷ lệ hoàn thành chương trình, việc tham gia mạng lưới chuyên gia và các nhiệm vụ tư vấn, phản biện.
Đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, đánh giá phải gắn với khả năng vận dụng kiến thức, kết quả thực hiện nhiệm vụ, sáng kiến và công trình chuyên môn.
Đối với học sinh, sinh viên và người học các ngành, nghề trọng điểm, thước đo nằm ở chất lượng đào tạo và khả năng đóng góp sau khi hoàn thành chương trình.
Như vậy, hệ thống đánh giá cần chuyển từ đếm số người được hỗ trợ sang đo giá trị tạo ra. Một chương trình chỉ thực sự hiệu quả khi kiến thức được vận dụng vào công việc, kết quả nghiên cứu được tiếp nhận và nguồn nhân lực sau đào tạo tham gia giải quyết nhu cầu phát triển của Thành phố.
Kế hoạch số 274/KH-UBND của UBND TP. Hà Nội đặt mục tiêu:
+ 90% người dân được phấn đấu tiếp cận thông tin về dịch vụ số và kỹ năng số.
+ 100% hộ nghèo, cận nghèo được hướng dẫn kỹ năng số cơ bản.
+ 100% thành viên tổ chuyển đổi số cộng đồng được bồi dưỡng kỹ năng số thiết yếu.

Chính sách đã xác lập hướng chuyển quan trọng, nhưng từ chủ trương đến kết quả vẫn còn những mắt xích phải được cụ thể hóa.
Trước hết là hệ thống danh mục. Thành phố cần ban hành danh mục ngành ưu tiên đào tạo, danh mục ngành, nghề trọng điểm và danh mục bài toán lớn làm căn cứ lựa chọn đối tượng, phân bổ nguồn lực.
Tiếp đến là quy trình tuyển chọn. Điều kiện, tiêu chí, phương thức đánh giá và trách nhiệm của từng cơ quan phải đủ rõ để bảo đảm cạnh tranh, công khai, minh bạch và lựa chọn đúng người.
Mắt xích thứ ba là ứng dụng. Với mỗi nhiệm vụ nghiên cứu, cần xác định đơn vị tiếp nhận, khả năng thử nghiệm, phương thức chuyển giao và trách nhiệm đưa kết quả vào chương trình, dự án hoặc giải pháp thực tế.
Cuối cùng là đo lường. Bộ chỉ tiêu cần phản ánh chất lượng đào tạo, sản phẩm nghiên cứu, mức độ hoàn thành nghĩa vụ, hiệu quả sử dụng ngân sách và đóng góp sau đào tạo, thay vì dừng ở số lượng người được hỗ trợ.
Bốn mắt xích cần lấp đầy:
+ Danh mục: Cụ thể hóa ngành ưu tiên, ngành nghề trọng điểm và bài toán lớn.
+ Tuyển chọn: Ban hành tiêu chí, quy trình và phương thức đánh giá từng nhóm đối tượng.
+ Ứng dụng: Xác định địa chỉ tiếp nhận, thử nghiệm và sử dụng kết quả nghiên cứu.
+ Đo lường: Xây dựng chỉ tiêu đánh giá theo từng nhóm chính sách và giai đoạn thực hiện.
Điều kiện, quy trình, danh mục ưu tiên và kết quả triển khai cần được công khai để cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, người dân và xã hội tham gia giám sát. Công khai đầy đủ sẽ góp phần lựa chọn đúng người, hạn chế đầu tư hình thức và tạo cơ sở điều chỉnh chính sách kịp thời.
Hà Nội chỉ có thể chuyển nguồn lực con người thành lợi thế cạnh tranh khi mỗi suất đào tạo gắn với một nhu cầu sử dụng, mỗi đề tài có địa chỉ tiếp nhận và người có năng lực được trao không gian cống hiến.
Hiệu quả cuối cùng không nằm ở số văn bằng được cấp hay số chương trình đã triển khai, mà ở những vấn đề của Thành phố được giải quyết tốt hơn. Khi đặt đúng bài toán, lựa chọn đúng nhân lực và đánh giá bằng giá trị tạo ra cho xã hội, nguồn nhân lực chất lượng cao mới thực sự trở thành động lực của mô hình tăng trưởng mới.