Triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, Hà Nội thúc đẩy nghiên cứu, kết nối dữ liệu và thử nghiệm công nghệ giao thông thông minh. Các nhiệm vụ về dữ liệu, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ đang góp phần xây dựng năng lực điều hành đô thị của Thủ đô.
Từ dữ liệu về mạng lưới xe buýt, điểm dừng, nhà ga đến những thuật toán giúp phương tiện tự hành nhận diện môi trường, giao thông thông minh đặt ra một chuỗi công việc liên quan chặt chẽ với nhau. Thiết bị cần được kết nối, dữ liệu cần được chuẩn hóa, công nghệ cần được kiểm chứng và kết quả nghiên cứu cần có địa chỉ ứng dụng.
Với Hà Nội, đây là một hướng cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Bài toán giao thông trở thành nơi đặt ra nhu cầu thực tiễn cho nghiên cứu, đồng thời kiểm chứng khả năng đưa công nghệ vào quản lý, điều hành đô thị.
Trong tiến trình đó, các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ, từ tổ chức kết nối dữ liệu, hỗ trợ nghiên cứu đến phát triển môi trường thử nghiệm, có vai trò tạo nền tảng. Những ứng dụng trên đường phố là kết quả có thể quan sát; phía sau là yêu cầu xây dựng năng lực để Thành phố hiểu, vận hành và tiếp tục hoàn thiện hệ thống.

Một hệ thống giao thông thông minh được hình thành từ khả năng kết nối hạ tầng, phương tiện, người tham gia giao thông và cơ quan quản lý. Camera, cảm biến, thiết bị định vị, hệ thống nhận diện phương tiện và các thiết bị Internet vạn vật (IoT) cung cấp thông tin về lưu lượng, tốc độ, mật độ phương tiện, sự cố và điều kiện lưu thông.
Nhưng dữ liệu thu thập từ nhiều nguồn cần được tập trung, chuẩn hóa và phân tích trước khi trở thành căn cứ điều hành. Đây là khâu gắn kết giữa hạ tầng kỹ thuật với năng lực xử lý bằng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, bản đồ số và các thuật toán dự báo.
Ngày 12/10/2026, Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Trương Việt Dũng ký Quyết định số 5695/QĐ-UBND ban hành Danh mục dữ liệu mở và dữ liệu dùng chung của Thành phố. Quyết định xác lập những nội dung dữ liệu cần được tổ chức, kết nối và khai thác trong nhiều lĩnh vực quản lý, trong đó có giao thông.
Trong 171 danh mục dữ liệu mở có thông tin về mạng lưới tuyến, biểu đồ xe trên tuyến, mạng lưới đường sắt đô thị, trạm dừng xe buýt, nhà ga và điểm kết nối giao thông công cộng. Thành phố đồng thời ban hành 95 dữ liệu dùng chung thuộc các lĩnh vực quản lý.
Sở Khoa học và Công nghệ được giao chủ trì, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị thực hiện kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu; quản lý, vận hành Cổng dữ liệu TP. Hà Nội và cung cấp dữ liệu mở của các đơn vị trên hệ thống.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là chủ trì đánh giá chất lượng dữ liệu mở, dữ liệu dùng chung khi kết nối, chia sẻ với Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu Thành phố (LGSP), Kho dữ liệu tập trung và Cổng dữ liệu TP. Hà Nội.
Đặt trong bài toán giao thông, những nhiệm vụ này có ý nghĩa thiết thực. Thông tin về tuyến xe, điểm dừng hay nhà ga chỉ có thể phục vụ hiệu quả việc tìm kiếm hành trình, nghiên cứu mạng lưới và tổ chức vận tải khi được cập nhật, kết nối và sử dụng thống nhất.
Theo Trung tâm Quản lý và Điều hành giao thông TP. Hà Nội, tính đến tháng 3/2026, mạng lưới xe buýt trên địa bàn có 155 tuyến, 2.239 xe và 5.024 điểm dừng, tiếp cận 126/126 xã, phường và kết nối với các địa phương lân cận.
Quy mô ấy cho thấy nhu cầu tổ chức dữ liệu phục vụ quản lý và hành khách. Khi được chuẩn hóa, kết nối phù hợp, thông tin về tuyến, lộ trình và phương tiện còn có thể hỗ trợ phân tích nhu cầu đi lại, dự báo lưu lượng hoặc đề xuất điều chỉnh mạng lưới vận tải.
Tuy nhiên, việc ban hành danh mục mới là cơ sở để triển khai. Chất lượng khai thác phụ thuộc vào trách nhiệm cập nhật của từng đơn vị và khả năng duy trì dữ liệu đầy đủ, chính xác, kịp thời. Theo phân công của UBND TP. Hà Nội, các cơ quan liên quan phải quản lý hiệu quả dữ liệu thuộc phạm vi phụ trách, đồng thời thực hiện kết nối, chia sẻ theo quy định.
Cùng với việc tổ chức dữ liệu, Hà Nội đã đặt ra lộ trình phát triển hạ tầng kết nối trong giao thông. Kế hoạch số 261/KH-UBND ngày 6/7/2026 về ứng dụng IoT trong giao thông thông minh xác định hướng xây dựng hệ sinh thái kết nối, phát triển cảm biến, mạng viễn thông, trung tâm dữ liệu và năng lực xử lý tại biên.
Giai đoạn 2026-2028, Thành phố đặt mục tiêu có ít nhất một trung tâm điều hành giao thông với tối thiểu 9 chức năng; 100% điểm trông giữ xe, thu phí hoàn thành kết nối dữ liệu theo định hướng đề ra; 80% nút giao trên các tuyến vành đai và trục hướng tâm được trang bị thiết bị IoT.
Giai đoạn 2029-2035, Hà Nội hướng tới hoàn thiện 12 chức năng điều hành, tích hợp dữ liệu lớn và AI, triển khai hệ thống dữ liệu có khả năng liên thông, đồng thời thí điểm phương tiện tự hành tại ít nhất hai khu vực đô thị hoặc khu công nghiệp.
Đây là những mục tiêu cần được triển khai theo lộ trình. Từ góc độ khoa học và công nghệ, yêu cầu xuyên suốt là bảo đảm các thành phần có thể kết nối, dữ liệu có thể khai thác và hệ thống có khả năng tiếp tục mở rộng.
Quá trình chia sẻ dữ liệu cũng cần một cơ chế quản trị rõ ràng. Quyết định số 103/2026/QĐ-UBND ngày 23/7/2026, có hiệu lực từ ngày 3/8/2026, quy định phương thức quản trị dựa trên dữ liệu số, ứng dụng công nghệ số, AI và cơ chế chia sẻ dữ liệu công - tư theo hợp đồng khai thác dữ liệu.
Theo đó, hợp tác có thể được thực hiện thông qua khai thác dữ liệu mở đã công bố, cung cấp quyền truy cập có kiểm soát hoặc phối hợp nghiên cứu, thử nghiệm, phát triển sản phẩm dữ liệu, công cụ phân tích, bản đồ số, mô hình dự báo và giải pháp AI.
Cơ chế này tạo thêm điều kiện huy động năng lực nghiên cứu, công nghệ của doanh nghiệp, viện nghiên cứu và các tổ chức khoa học, công nghệ. Đồng thời, quyền tiếp cận phải được xác định theo tính chất dữ liệu, mục đích sử dụng và thẩm quyền cho phép.
Doanh nghiệp cung cấp phần mềm, nền tảng hoặc giải pháp kỹ thuật không đương nhiên có quyền khai thác dữ liệu phát sinh từ hệ thống. Quy định cũng không cho phép sử dụng cơ chế chia sẻ dữ liệu công - tư để chuyển giao quyền quản lý dữ liệu gốc, độc quyền hóa nguồn dữ liệu công hoặc tạo lợi thế cạnh tranh không công bằng.
Bởi vậy, phát triển công nghệ phân tích và mở rộng khả năng khai thác phải đi cùng bảo vệ dữ liệu, xác định trách nhiệm và kiểm soát rủi ro. Đây là điều kiện để dữ liệu trở thành nguồn lực phục vụ đô thị mà vẫn bảo đảm lợi ích của Nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan.

Triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, Hà Nội đang đổi mới phương thức tổ chức nghiên cứu khoa học, công nghệ theo hướng chủ động xác định vấn đề cần giải quyết để đặt hàng viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp tham gia.
Thành phố đã công bố danh mục 30 bài toán lớn giai đoạn 2026-2030. Đến tháng 10/2026, có 160 đề xuất đặt hàng, xét tài trợ được tiếp nhận. Các nhiệm vụ đề cập những nhu cầu cụ thể của quản lý đô thị và đời sống, trong đó có xử lý, tái sử dụng đất và bùn thải từ công trình ngầm, đánh giá sức khỏe công trình cầu, dự báo tác động của ô nhiễm không khí đến sức khỏe người dân.
Điểm đáng chú ý là yêu cầu gắn nhiệm vụ khoa học với đơn vị sử dụng kết quả, tăng cường liên kết giữa Nhà nước, cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp. Một số nhiệm vụ được tổ chức theo mô hình hợp tác ba bên, với cam kết đối ứng khoảng 50% kinh phí từ doanh nghiệp.
Cách tiếp cận ấy có ý nghĩa đối với giao thông thông minh. Những nhu cầu như phân tích lưu lượng, điều chỉnh tín hiệu, dự báo nguy cơ ùn tắc, quản lý hạ tầng hay nghiên cứu phương tiện tự hành đều cần được chuyển thành nhiệm vụ có mục tiêu, sản phẩm và tiêu chí đánh giá cụ thể.
Khi bài toán xuất phát từ thực tiễn và có nơi tiếp nhận kết quả, hoạt động nghiên cứu có thêm cơ sở để đi đến ứng dụng. Ngược lại, nếu thiếu điều kiện kiểm chứng và cơ chế đưa sản phẩm vào vận hành, khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu với nhu cầu quản lý vẫn khó được thu hẹp.
Hà Nội đang phát triển các công cụ hỗ trợ quá trình kết nối này. Sàn Giao dịch công nghệ Hà Nội và Chợ Chuyển đổi số ra mắt ngày 3/2/2026, hướng tới kết nối tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp sở hữu công nghệ với đơn vị có nhu cầu ứng dụng.
Đến thời điểm báo cáo được công bố trong tháng 10/2026, Sàn Giao dịch công nghệ Hà Nội có 227 doanh nghiệp tham gia, 44 công nghệ chào bán, 80 nhu cầu tìm mua và 28 thỏa thuận hợp tác. Chợ Chuyển đổi số kết nối 40 đơn vị cung và 44 đơn vị cầu.
Đây là những công cụ kết nối cung - cầu công nghệ nói chung, tạo thêm điều kiện để kết quả nghiên cứu tiếp cận nhu cầu thị trường. Với giao thông thông minh, việc phát triển sản phẩm vẫn cần những yêu cầu cụ thể về khả năng tích hợp, độ ổn định, an toàn và điều kiện vận hành.
Một hướng triển khai đáng chú ý là thử nghiệm có kiểm soát. Tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, hệ thống giao thông tự hành thông minh của Công ty cổ phần Phenikaa-X là một trong hai dự án thử nghiệm có kiểm soát đầu tiên của Hà Nội, cùng với dự án sản xuất tổng oxit đất hiếm hàm lượng hơn 95% ở quy mô bán công nghiệp.
Cơ chế này tạo môi trường để công nghệ mới được kiểm chứng trong phạm vi, điều kiện xác định; đồng thời cung cấp căn cứ thực tế cho cơ quan quản lý trước khi xem xét mở rộng ứng dụng.
Hà Nội cho phép thử nghiệm bốn dòng phương tiện của Phenikaa-X, gồm xe buýt mini, robotaxi, xe quét đường và robot giao hàng, tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc và khuôn viên Đại học Quốc gia Hà Nội. Dự án được phép thử nghiệm trong 24 tháng. Hoạt động triển khai diễn ra ngày 10/9/2026.
Theo PGS.TS Lê Anh Sơn, Giám đốc Công ty cổ phần Phenikaa-X, Giám đốc Đại học Phenikaa, doanh nghiệp đã có hơn 5 năm nghiên cứu, hàng nghìn lượt thử nghiệm và hàng chục nghìn kilômét vận hành. Các công nghệ được phát triển gồm bản đồ số độ chính xác cao, định vị, nhận diện môi trường, hoạch định lộ trình và điều khiển phương tiện.
Những công nghệ này giúp phương tiện xác định vị trí, phát hiện vật cản, lựa chọn hướng di chuyển và vận hành theo thuật toán. Đồng thời, đây cũng là các hướng nghiên cứu có liên hệ với hệ thống giao thông thông minh, nhất là trong xử lý dữ liệu, nhận diện và tương tác với môi trường.
Theo lãnh đạo Phenikaa-X, mật độ xe máy dày đặc, dòng phương tiện hỗn hợp và biến động liên tục của giao thông Việt Nam đặt ra những yêu cầu đồng thời về độ chính xác, tốc độ tính toán và khả năng ra quyết định an toàn.
Dữ liệu thu nhận từ thực tế vì thế có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển công nghệ. Qua thử nghiệm, doanh nghiệp có thể định lượng hiệu năng, xác định giới hạn của hệ thống, tối ưu thuật toán và mô hình điều khiển, từ đó đánh giá điều kiện cần thiết cho việc mở rộng ứng dụng.
Hệ thống đường nội khu Hòa Lạc, với mặt cắt rộng, mật độ giao thông phù hợp và ít điểm xung đột, tạo điều kiện xác định tuyến, kiểm soát tốc độ, khung giờ vận hành, số hành khách và đối tượng tham gia. Khả năng kết nối với khuôn viên Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc giúp đa dạng hóa kịch bản thử nghiệm.
Theo ông Lê Thanh Sơn, Phó Trưởng ban Quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp TP. Hà Nội, Ban Quản lý đang triển khai kế hoạch hoàn thiện hạ tầng số ưu tiên tại Hòa Lạc, trọng tâm là hạ tầng viễn thông thụ động, bảo đảm 5G toàn khu và thí điểm cột thông minh tích hợp IoT trên một số tuyến đường nội khu.
Hạ tầng này phục vụ truyền dữ liệu cảm biến, định vị độ chính xác cao và giám sát phương tiện theo thời gian thực. Trong giai đoạn vận hành, Ban Quản lý tổ chức giám sát định kỳ, đột xuất đối với thử nghiệm giao thông tự hành, đồng thời tiếp nhận khó khăn, vướng mắc để phối hợp xử lý.
Quá trình ấy thể hiện sự gắn kết giữa nghiên cứu, hạ tầng và quản lý. Đại học Phenikaa cung cấp nền tảng học thuật, đội ngũ nghiên cứu và nhân lực kỹ thuật; Tập đoàn Phenikaa cung cấp năng lực công nghiệp, hạ tầng thử nghiệm và nguồn vốn dài hạn; cơ quan nhà nước tạo cơ chế và giám sát việc thực hiện.
Theo PGS.TS Lê Anh Sơn, Nghị quyết 57-NQ/TW mở ra không gian để thử nghiệm, chấp nhận sai sót trong kiểm soát và học hỏi, tạo điều kiện để nhà khoa học theo đuổi công nghệ lõi và những bài toán khó.
Với Hà Nội, ý nghĩa của không gian thử nghiệm nằm ở cả hai phía: doanh nghiệp có điều kiện hoàn thiện công nghệ, còn cơ quan quản lý có thêm dữ liệu thực tế để đánh giá và hoàn thiện cách thức quản lý công nghệ mới.

Các nhiệm vụ về dữ liệu, nghiên cứu và thử nghiệm chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi được kết nối với nhu cầu vận hành của Thành phố.
Trong giao thông, những ứng dụng đã triển khai cho thấy nhu cầu này khá rõ. Tháng 12/2025, Trung tâm điều khiển giao thông ứng dụng AI của Công an TP. Hà Nội được đưa vào hoạt động. Đến tháng 7/2026, Thành phố tiếp tục vận hành 36 màn hình LED thông tin, cảnh báo tại các tuyến đường, nút giao trọng điểm, cùng hệ thống gần 5.000 camera AI và trợ lý ảo AI hỗ trợ quản lý, điều hành.
Theo Trung tá Đào Việt Long, Phó Trưởng phòng Cảnh sát giao thông, camera AI có khả năng đếm lưu lượng, cung cấp dữ liệu để điều chỉnh thời gian đèn tín hiệu phù hợp thực tế. Màn hình LED giúp thông báo tình trạng ùn tắc, hướng dẫn phân luồng và gợi ý lộ trình thay thế.
Trong thời gian từ ngày 11/9 đến 7/10/2026, hệ thống camera AI đã phát hiện, gửi thông báo xử lý hơn 17.000 trường hợp vi phạm giao thông. Tuy nhiên, cùng kỳ báo cáo, Thành phố vẫn ghi nhận 351 lượt điểm ùn tắc, chủ yếu vào giờ cao điểm.
Hai thông tin này phản ánh những khía cạnh khác nhau của bài toán quản lý. Khả năng phát hiện vi phạm là một kết quả của ứng dụng công nghệ; hiệu quả giảm ùn tắc còn phụ thuộc lưu lượng phương tiện, năng lực hạ tầng, tổ chức giao thông, điều kiện thời tiết và sự phối hợp xử lý tại hiện trường.
Bởi vậy, nhiệm vụ khoa học, công nghệ cần gắn với những vấn đề có thể xác định và đánh giá. Dữ liệu giúp nhận diện nguyên nhân; công cụ phân tích hỗ trợ lựa chọn phương án; kết quả vận hành trở lại cung cấp thông tin để tiếp tục điều chỉnh giải pháp.
Ở lĩnh vực hạ tầng, Sở Xây dựng Hà Nội đã trình UBND TP. Hà Nội phê duyệt hồ sơ đề xuất cấp độ 3 đối với Hệ thống quản lý kết cấu hạ tầng giao thông trên nền bản đồ số. Hồ sơ được Công an TP. Hà Nội thẩm định tại Văn bản số 7709/CAHN-ANM ngày 28/9/2026.
Theo Phó Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội Trần Hữu Bảo, hệ thống sẽ tạo nền tảng quan trọng cho phát triển giao thông thông minh và hạ tầng số đô thị. Giai đoạn 2026-2030, Sở tiếp tục hoàn thiện, mở rộng, nâng cao chất lượng cơ sở dữ liệu và tăng cường kết nối với các hệ thống chuyên ngành.
Trên cơ sở dữ liệu được chuẩn hóa, Thành phố định hướng ứng dụng AI, camera, cảm biến và viễn thám để dự báo xu hướng xuống cấp, xác định thời điểm bảo trì, mô phỏng tổ chức giao thông và hỗ trợ lập kế hoạch đầu tư trung hạn. Về lâu dài là nghiên cứu mô hình bản sao số tích hợp dữ liệu hạ tầng, lưu lượng, quy hoạch, dự án và các dữ liệu đô thị.
Những định hướng này tiếp tục đặt ra yêu cầu đối với công tác khoa học và công nghệ: hỗ trợ hình thành dữ liệu có chất lượng, phát triển công cụ phù hợp và bảo đảm khả năng kết nối giữa các hệ thống.
Tuy nhiên, quá trình đưa công nghệ vào ứng dụng vẫn còn những vấn đề cần giải quyết. Báo cáo của UBND TP. Hà Nội cho thấy, dù nguồn lực, thể chế và nhiều nền tảng đã hình thành, mức độ khai thác, sử dụng chưa đồng đều. Một số cơ chế về đặt hàng nghiên cứu, nghiệm thu theo sản phẩm đầu ra, định giá dữ liệu, tài sản trí tuệ và mua sắm sản phẩm công nghệ mới vẫn đang được hoàn thiện hướng dẫn.
Đây là những nội dung ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chuyển kết quả nghiên cứu thành sản phẩm được sử dụng. Công nghệ cần có đơn vị tiếp nhận, nhân lực vận hành và điều kiện tiếp tục bảo trì, phát triển sau khi nhiệm vụ nghiên cứu kết thúc.
Tại cuộc họp ngày 15/10 về phương án thuê tư vấn triển khai Đề án “Đô thị Hà Nội thông minh”, Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Trương Việt Dũng yêu cầu tận dụng hiệu quả hạ tầng, nền tảng đã hình thành; xác định rõ kiến trúc, lộ trình triển khai, quản trị dữ liệu và mô hình vận hành.
Đáng chú ý, việc thuê tư vấn phải gắn với đào tạo, chuyển giao phương pháp và tri thức, bảo đảm Hà Nội có thể chủ động tổ chức thực hiện, quản lý và vận hành sau triển khai. Kinh nghiệm quốc tế cần được tiếp thu phù hợp đặc thù Thủ đô, tránh phụ thuộc vào đơn vị tư vấn.
Trung tướng Nguyễn Thanh Tùng, Giám đốc Công an TP. Hà Nội, cũng nhấn mạnh yêu cầu phân biệt nhiệm vụ hoàn thành trên văn bản với sản phẩm đã được đưa vào vận hành và tạo hiệu quả. Các dự án mới phải kết nối được với kiến trúc tổng thể, tránh chồng chéo.
Những yêu cầu này xác định chiều sâu của hành trình làm chủ công nghệ. Thành phố cần có năng lực đánh giá giải pháp, quản lý dữ liệu, tổ chức vận hành và tiếp nhận tri thức để tiếp tục phát triển hệ thống.
Trong đó, công tác kết nối, đánh giá chất lượng dữ liệu do Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì theo phân công của Thành phố là một phần nền tảng. Cùng với cơ chế đặt hàng nghiên cứu, môi trường thử nghiệm và sự tham gia của doanh nghiệp, nhà trường, những nhiệm vụ này góp phần nối nhu cầu quản lý với năng lực phát triển công nghệ.
Triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW trong giao thông vì thế cần được thể hiện bằng những kết quả cụ thể: dữ liệu được kết nối và sử dụng, công nghệ được kiểm chứng, sản phẩm có địa chỉ ứng dụng, đội ngũ có khả năng vận hành. Từ nền tảng ấy, Hà Nội có thêm điều kiện nâng cao chất lượng điều hành và phục vụ tốt hơn nhu cầu đi lại của người dân.