Một văn bản gửi tới cơ quan nhà nước từng khiến doanh nghiệp phải bố trí người chuyển hồ sơ, tìm đúng đầu mối tiếp nhận rồi liên hệ nhiều lần để biết tiến độ xử lý. Những công việc ấy, khi lặp lại trong quá trình sản xuất, kinh doanh, trở thành chi phí về thời gian, nhân lực và cơ hội.

 

Tại tọa đàm về hệ thống chuyển nhận văn bản điện tử dùng chung của Hà Nội cuối tháng 9, bà Trần Thị Dịu, đại diện Chi nhánh Tổng công ty Chuyển phát nhanh Bưu điện, Công ty cổ phần tại Hà Nội, cho biết đơn vị đã sử dụng hệ thống hơn một năm, tính cả giai đoạn thử nghiệm. Thay vì tìm hiểu phải gửi văn bản cho ai, bằng cách nào và đến đâu, doanh nghiệp có thể chủ động gửi, tra cứu trạng thái và tìm lại lịch sử giao dịch.

 

Các trạng thái tiếp nhận, xử lý, phản hồi giúp doanh nghiệp biết văn bản đang ở bước nào. Việc giảm in, sao chụp, chuyển phát và lưu hồ sơ giấy cũng tiết kiệm thêm nguồn lực.

 

Câu chuyện ấy cho thấy một hướng đi cụ thể trong quá trình Hà Nội triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân: cải thiện môi trường kinh doanh từ những giao dịch thường xuyên giữa doanh nghiệp với chính quyền, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận vốn, mặt bằng, công nghệ và thị trường.

 

Theo báo cáo của Thống kê thành phố Hà Nội, trong 9 tháng năm 2026, Thành phố đã cấp giấy chứng nhận cho 25.600 doanh nghiệp thành lập mới với vốn đăng ký 499.900 tỷ đồng, tăng 2,0% về số lượng doanh nghiệp và tăng 73,0% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Cùng thời gian, 10.000 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 25,0%. Tỷ lệ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng được duy trì ở mức 100%, bảo đảm chất lượng và đúng hạn.

 

Điểm đáng chú ý là vốn đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới tăng 73,0% và số doanh nghiệp hoạt động trở lại tăng 25,0%, trong khi số doanh nghiệp thành lập mới tăng 2,0% so với cùng kỳ. Quy mô vốn đăng ký tăng mạnh đặt ra yêu cầu tạo điều kiện để các kế hoạch kinh doanh được chuyển thành đầu tư, năng lực sản xuất và việc làm.

 

Tuy nhiên, sức ép đối với doanh nghiệp vẫn hiện hữu. Trong 9 tháng năm 2026, Hà Nội có 26,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 9,0%; 10,6 nghìn doanh nghiệp giải thể, tăng 52,0% so với cùng kỳ. Bên cạnh hỗ trợ doanh nghiệp gia nhập thị trường và triển khai đầu tư, việc giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động, tháo gỡ khó khăn về dòng tiền và chi phí vẫn là yêu cầu cấp thiết.

 

 

Ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội, cho rằng điều doanh nghiệp mong đợi nhất hiện nay là các chính sách hỗ trợ thực chất về dòng tiền, tín dụng, giảm chi phí tuân thủ và cải cách thủ tục hành chính. Chính sách cần giúp doanh nghiệp đứng vững, tái cơ cấu và phát triển bền vững trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.

 

Từ nhu cầu ấy, việc triển khai Nghị quyết 68 cần gắn với những thay đổi doanh nghiệp có thể cảm nhận trong hoạt động hằng ngày: tiếp cận thông tin thuận tiện hơn, hồ sơ được xử lý rõ trách nhiệm hơn, kiến nghị có đầu mối theo dõi và trả lời.

 

Hệ thống chuyển nhận văn bản điện tử dùng chung được Hà Nội đưa vào vận hành theo Quyết định số 3667 ngày 21/7/2026 là một bước cụ thể. Văn bản điện tử có chữ ký số hợp lệ được gửi, nhận qua hệ thống có giá trị pháp lý theo quy định.

 

Ông Bùi Dương, Giám đốc Trung tâm Quản trị hệ thống và Phát triển ứng dụng thuộc Trung tâm Phục vụ hành chính công TP. Hà Nội, cho biết khoảng 260.000 doanh nghiệp có tài khoản trên hệ thống, trong đó hơn 10.000 doanh nghiệp đã xác thực và sử dụng chức năng gửi, nhận văn bản.

 

Khoảng cách giữa số tài khoản được tạo và số doanh nghiệp sử dụng cho thấy việc mở rộng nền tảng phải đi cùng hướng dẫn, hỗ trợ và cải thiện trải nghiệm. Đơn vị vận hành sẽ tiếp tục theo dõi số văn bản gửi, nhận, thời gian xử lý và phản hồi để đánh giá hiệu quả thực tế.

 

“Thời gian tới, chúng tôi sẽ xây dựng, thiết lập các bộ chỉ tiêu và bảng dữ liệu theo dõi”, ông Bùi Dương cho biết.

 

Ở cấp cơ sở, ông Vũ Xuân Trường, Chủ tịch UBND phường Việt Hưng, cho rằng hệ thống giúp địa phương chuyển tải thông tin trực tiếp hơn và tiếp nhận phản hồi từ doanh nghiệp. Mã định danh, trạng thái văn bản hỗ trợ lãnh đạo và bộ phận chuyên môn theo dõi tiến độ, kiểm tra phân công và trách nhiệm xử lý.

 

Một yêu cầu được đặt ra là thống nhất nhận thức về giá trị pháp lý của văn bản điện tử có chữ ký số hợp lệ, tránh tình trạng đã tiếp nhận trên hệ thống nhưng tiếp tục yêu cầu doanh nghiệp nộp bản giấy.

 

Sau hơn hai tháng Luật Thủ đô năm 2026 có hiệu lực, ông Nguyễn Xuân Lưu, Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội, nhấn mạnh việc triển khai Luật phải gắn với yêu cầu phát triển và thực tiễn đời sống, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Các cơ chế, chính sách phải được cụ thể hóa bằng kết quả thiết thực, tạo thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh.

 

 

Chuyển động trong phương thức phục vụ doanh nghiệp được thể hiện rõ hơn tại Hội nghị xử lý điểm nghẽn của doanh nghiệp khoa học và công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo và công nghệ số chiều 30/9/2026. Theo Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội phục vụ hội nghị, tính đến hết ngày 29/9, Sở đã tiếp nhận 124 kiến nghị, trong đó 62 kiến nghị, tương đương 50%, được báo cáo đã giải quyết trước hội nghị.

 

Các kiến nghị được phân loại theo bốn mã màu trên bảng theo dõi trực tuyến. Màu xanh thể hiện nội dung đã có câu trả lời, được giải quyết trước hội nghị; màu vàng là nội dung thuộc thẩm quyền thành phố cần cho ý kiến tại hội nghị; màu đỏ là vấn đề các sở, ngành tiếp tục nghiên cứu, tham mưu; màu xám là nội dung vượt thẩm quyền, cần kiến nghị cơ quan Trung ương.

 

Đối với 62 kiến nghị còn lại, tài liệu báo cáo xác định 25 kiến nghị cần lãnh đạo thành phố cho ý kiến chỉ đạo, 31 kiến nghị cần các sở, ngành tiếp tục nghiên cứu, tham mưu và 6 kiến nghị vượt thẩm quyền Thành phố.

 

Tuy nhiên, có văn bản trả lời chưa đồng nghĩa vướng mắc đã được tháo gỡ đến cùng. Ông Trương Việt Dũng, Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội, yêu cầu coi 124 kiến nghị là 124 công việc phải theo dõi tới kết quả cuối cùng.

 

Những nội dung đã trả lời cần được rà soát để doanh nghiệp biết hồ sơ phải chuẩn bị, nơi nộp, người tiếp nhận và thời hạn. Nếu văn bản chỉ dẫn lại nghị quyết nhưng doanh nghiệp vẫn chưa biết bước tiếp theo, công việc chưa thể coi là hoàn tất. Nội dung thuộc thẩm quyền thành phố phải được quyết định, hướng dẫn; vấn đề cần cơ chế mới phải có phương án tham mưu; nội dung vượt thẩm quyền phải được tổng hợp cụ thể để kiến nghị Trung ương.

 

Cách tiếp cận này đặt chất lượng giải quyết công việc vào trung tâm. Điều doanh nghiệp cần sau một cuộc đối thoại là đường đi rõ ràng để hồ sơ được xử lý, nguồn lực được tiếp cận và kế hoạch kinh doanh có thể triển khai.

 

 

Kết quả đánh giá môi trường kinh doanh năm 2025 ghi nhận những điểm đáng chú ý của Hà Nội về tiếp cận nguồn lực, chi phí tuân thủ thủ tục hành chính và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Thành phố cũng đứng thứ hai trong Chỉ số Hiệu quả kinh tế tư nhân thí điểm.

 

Các kết quả là cơ sở để thành phố tiếp tục rà soát chất lượng điều hành, xác định nhiệm vụ cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Trọng tâm gồm công khai thông tin đất đai, quy hoạch, tái sử dụng dữ liệu đã số hóa, nâng chất lượng phục vụ trong đăng ký doanh nghiệp và tăng khả năng tiếp cận chính sách.

 

Với doanh nghiệp đang muốn mở rộng sản xuất, mặt bằng và vốn là những nguồn lực thiết yếu. Chi phí thuê đất, đầu tư máy móc và tìm thị trường có thể quyết định khả năng triển khai một kế hoạch kinh doanh.

 

Nghị quyết số 48/2026/NQ-HĐND của HĐND TP. Hà Nội quy định các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, cụ thể hóa cơ chế của Luật Thủ đô năm 2026.

 

 

Đối tượng được xem xét hỗ trợ là doanh nghiệp đăng ký trên địa bàn Hà Nội, không có vốn nhà nước hoặc Nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định; có ngành, nghề kinh doanh chính thuộc các lĩnh vực công nghiệp văn hóa, thể thao, du lịch; giáo dục và đào tạo; y tế; logistics; nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện về đóng góp ngân sách, tạo việc làm và trách nhiệm xã hội theo quy định.

 

Việc giảm chi phí đầu vào tạo thêm điều kiện để doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất và mở rộng hoạt động. Hỗ trợ vốn gắn với máy móc, thiết bị, công nghệ mới hướng tới nâng năng lực sản xuất; hỗ trợ thị trường giúp doanh nghiệp tìm đối tác, quảng bá sản phẩm và tiếp cận những cơ hội kinh doanh ngoài thị trường trong nước.

 

Để tiếp cận hỗ trợ, doanh nghiệp cần chủ động xác định đúng đối tượng, chuẩn bị hồ sơ chứng minh điều kiện và làm rõ nhu cầu đầu tư. Hiệu quả chính sách phụ thuộc vào cả khả năng tổ chức thực hiện của cơ quan quản lý lẫn sự chủ động của doanh nghiệp.

 

PGS.TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho rằng Hà Nội cần tạo “không gian cơ hội” cho khu vực tư nhân, trong đó có các lĩnh vực kinh tế đêm, kinh tế sáng tạo và kinh tế số.

 

Đây là hướng tiếp cận bổ sung cho các chính sách hỗ trợ nguồn lực: mở thêm thị trường và cơ hội kinh doanh để doanh nghiệp đầu tư, đổi mới, phát huy năng lực cạnh tranh.

 

Không gian phát triển của doanh nghiệp tư nhân còn gắn với khả năng liên kết cùng khu vực đầu tư nước ngoài. Theo báo cáo của Sở Tài chính Hà Nội được dẫn trong bài “Hà Nội thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh” ngày 30/9, lũy kế từ đầu năm 2026 đến kỳ báo cáo tháng 9, vốn FDI thực hiện trên địa bàn đạt khoảng 1.357,96 triệu USD, bằng 127,52% so với cùng kỳ năm 2025 và đạt 84,87% kế hoạch năm.

 

Riêng tháng 9, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo ghi nhận ba lượt dự án điều chỉnh tăng vốn với 188,49 triệu USD, mức tăng vốn lớn nhất của lĩnh vực sản xuất từ đầu năm.

 

 

Hà Nội định hướng tiếp tục thu hút các dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, trung tâm nghiên cứu và phát triển, công nghệ sinh học, năng lượng xanh và hạ tầng thông minh. Đặt bên cạnh yêu cầu tăng cường kết nối doanh nghiệp tư nhân với khu vực FDI, hướng thu hút này mở thêm cơ hội để doanh nghiệp trong nước tham gia cung ứng, hợp tác công nghệ và nâng năng lực sản xuất.

 

Tuy nhiên, báo cáo cũng chỉ ra những khó khăn về quỹ đất sạch, tiến độ hạ tầng, chi phí thuê đất, logistics và nhân công. Việc tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn ấy có ý nghĩa đối với cả nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước, góp phần tạo điều kiện cho các mối liên kết sản xuất, kinh doanh phát triển.

 

Cơ hội từ dòng vốn đầu tư cần được chuyển thành nhu cầu hợp tác cụ thể. Để tham gia, doanh nghiệp trong nước phải đáp ứng yêu cầu về công nghệ, chất lượng, tiêu chuẩn và khả năng cung ứng. Đây cũng là lý do khơi thông nguồn lực phải đi cùng nâng năng lực cạnh tranh.

 

 

Công nghệ, quản trị và nhân lực trở thành điểm kết nối giữa triển khai Nghị quyết 68 với Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

 

Song để chính sách phát huy tác dụng, doanh nghiệp cần biết mình phù hợp với cơ chế nào, bắt đầu từ đâu và được hỗ trợ ra sao trong từng giai đoạn.

 

Theo ông Cù Ngọc Trang, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, bước khó hơn sau khi ban hành cơ chế là biến cơ chế thành năng lực, tăng trưởng và cơ hội cụ thể cho doanh nghiệp. Ông dẫn phản ánh gửi tới Ban Tổ chức hội nghị ngày 30/9: “Ưu đãi có trên văn bản, nhưng doanh nghiệp không biết bắt đầu từ đâu”.

 

Tại hội nghị, ông Trương Việt Dũng nhìn nhận các công cụ chính sách của Thành phố “chưa được nối thành một đường đi thông suốt từ chính sách đến doanh nghiệp, từ công nghệ đến thị trường và từ nguồn lực công đến kết quả cuối cùng”.

 

“Chính sách phải chủ động tìm đến đúng đối tượng”, Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội yêu cầu.

 

Theo cách tiếp cận này, cơ quan quản lý cần nhận diện doanh nghiệp đang ở giai đoạn nào, thiếu điều kiện gì và điều hướng tới công cụ hỗ trợ tương ứng. Doanh nghiệp cần nghiên cứu, hoàn thiện hoặc chuyển giao công nghệ được hướng dẫn tiếp cận công cụ phù hợp. Khi cần thiết bị, đo kiểm, kiểm định, doanh nghiệp được kết nối với phòng thí nghiệm. Khi công nghệ cần kiểm chứng trong thực tế, cơ quan quản lý hướng dẫn tiếp cận cơ chế thử nghiệm có kiểm soát.

 

Sau khi được kiểm chứng, sản phẩm tiếp tục được hỗ trợ bảo hộ tài sản trí tuệ, thương mại hóa, kết nối bên có nhu cầu và tìm nguồn vốn mở rộng.

 

Ông Trương Việt Dũng giao Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì, trước ngày 30/11 hoàn thành thiết kế các luồng chính sách theo vòng đời doanh nghiệp và công nghệ. Mỗi luồng phải giúp doanh nghiệp xác định được mình đang ở đâu, sử dụng công cụ nào, ai hướng dẫn, cần hồ sơ gì, bao lâu có kết quả và giá trị cuối cùng cần tạo ra.

 

Yêu cầu này hướng tới kết nối các cơ chế hỗ trợ thành một hành trình có đầu mối điều hướng, tư vấn hồ sơ, tài liệu hướng dẫn, cán bộ phụ trách và trạng thái xử lý có thể theo dõi.

 

Để duy trì việc tiếp nhận, xử lý vướng mắc thường xuyên, ông Cù Ngọc Trang đề xuất mở cổng kiến nghị dành cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo và công nghệ số. Theo đề xuất, doanh nghiệp có thể cung cấp hồ sơ, tài liệu trực tuyến, giảm việc phải cung cấp nhiều lần.

 

Sở hướng tới kết nối cổng với các cơ quan thuế, bảo hiểm, hải quan và các sở, ngành để từng bước xử lý trực tuyến, xác định rõ nội dung vướng mắc và trách nhiệm của từng cơ quan.

 

 

Ông Trương Việt Dũng nhất trí với đề xuất thành lập cổng kiến nghị, đồng thời thống nhất thành lập tổ liên ngành giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp. Ông đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ tham gia phối hợp xử lý những vấn đề liên quan.

 

Chủ trương này hướng tới việc tạo đầu mối trao đổi thường xuyên, giúp doanh nghiệp tiếp cận cơ quan có trách nhiệm khi phát sinh vướng mắc, thay vì phải chờ một cuộc đối thoại tiếp theo.

 

Cùng với việc đưa chính sách tới doanh nghiệp, Hà Nội tìm cách kéo gần khoảng cách giữa nghiên cứu và nhu cầu ứng dụng. Phiên đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo từ nhu cầu doanh nghiệp do Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội tổ chức ngày 25/9 cho thấy một bước triển khai cụ thể.

 

Ông Cù Ngọc Trang cho biết khảo sát tại Bát Tràng, Vạn Phúc, Chuyên Mỹ, Sơn Đồng cho thấy các cơ sở sản xuất có tay nghề cao, sản phẩm phong phú, nhưng còn nhiều công đoạn có thể ứng dụng công nghệ để nâng giá trị và thiết kế.

 

Trong khi đó, tại viện nghiên cứu, trường đại học, nhiều ý tưởng và kết quả nghiên cứu thiếu nơi ứng dụng, môi trường kiểm chứng. Nhu cầu và năng lực giải quyết cùng tồn tại, song cần một bài toán đủ rõ và đơn vị sẵn sàng thử nghiệm, tiếp nhận kết quả.

 

Phiên đặt hàng tổ chức đối thoại trực tiếp: doanh nghiệp nêu vấn đề, nhà khoa học và doanh nghiệp công nghệ đề xuất khả năng giải quyết, cơ quan quản lý chốt hướng xử lý, phân công theo dõi và xác định thời hạn.

 

Những đề xuất này cho thấy nhu cầu tham gia giải quyết các vấn đề của đô thị bằng sản phẩm, công nghệ cụ thể. Việc nghiên cứu, thử nghiệm, đánh giá và triển khai cần tiếp tục được thực hiện theo quy trình tương ứng.

 

“Tên một nhiệm vụ chưa chứng minh được sự cần thiết phải đặt hàng; ngược lại, một bài toán chưa có sẵn lời giải vẫn phải được tiếp tục làm rõ”, ông Cù Ngọc Trang khẳng định.

 

Theo hướng xử lý được thống nhất, giải pháp đã có sẵn sẽ được hỗ trợ kết nối, thử nghiệm và chuyển giao. Công nghệ còn thiếu hoặc chưa đạt chỉ tiêu được xem xét đưa vào nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển. Những vướng mắc pháp lý được đánh giá điều kiện áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát.

 

Tại hội nghị ngày 30/9, ông Trương Việt Dũng tiếp tục đặt yêu cầu nối quá trình nghiên cứu với nơi sử dụng sản phẩm. Nhu cầu sử dụng phải được xác định trong quá trình nghiên cứu và thử nghiệm, tránh để nghiên cứu hoàn thành mới tìm người dùng hoặc thử nghiệm kết thúc mà doanh nghiệp vẫn chưa biết ai mua sản phẩm.

 

Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội yêu cầu xây dựng quy trình thống nhất từ bài toán thực tế, tiếp nhận giải pháp, lựa chọn, thử nghiệm có kiểm soát, đánh giá kết quả đến đặt hàng, thuê, mua sắm hoặc nhân rộng.

 

Hà Nội đã công bố 30 bài toán lớn giai đoạn 2026 đến 2030 và mời doanh nghiệp đề xuất giải pháp. Để các bài toán trở thành cơ hội phát triển sản phẩm, thành phố cần đóng vai trò kết nối, hỗ trợ và xem xét phương án trở thành khách hàng đầu tiên.

 

Lễ trao Giấy chứng nhận Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ. Ảnh: Lê Hải.

 

Khi có nơi ứng dụng, sản phẩm được kiểm chứng và hình thành nhu cầu thị trường, doanh nghiệp có thêm cơ sở tiếp cận vốn, huy động nguồn lực phát triển. Trong thử nghiệm có kiểm soát, ông Trương Việt Dũng lưu ý phải chấp nhận rủi ro; trường hợp chưa thành công cần tính toán cách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp tục hoạt động, rút kinh nghiệm và hoàn thiện công nghệ.

 

Một yêu cầu khác là khẩn trương công khai bản đồ năng lực nghiên cứu, phòng thí nghiệm, đo lường, kiểm định có thể dùng chung trên địa bàn. Doanh nghiệp cần biết ở đâu có thiết bị phù hợp, đáp ứng tiêu chuẩn nào, chi phí và chính sách hỗ trợ ra sao.

 

Việc kết nối hạ tầng nghiên cứu với doanh nghiệp giúp các công cụ hỗ trợ trở nên cụ thể hơn. Doanh nghiệp có thể xác định địa chỉ đáp ứng yêu cầu hoàn thiện, đo kiểm và kiểm chứng sản phẩm, thay vì phải tự tìm kiếm từng đầu mối.

 

Để mở thị trường cho doanh nghiệp công nghệ trong nước, ông Trương Việt Dũng đề nghị tổ chức ngay trong tháng 10 hai đợt kết nối theo ngành với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong khu công nghiệp. “Lấy nhu cầu trước, tìm giải pháp sau”, ông nhấn mạnh.

 

Trước mỗi đợt kết nối, cần làm việc trực tiếp với bên có nhu cầu để xác định họ đang cần công nghệ gì, phần mềm gì, tự động hóa khâu nào và tiêu chuẩn ra sao. Từ đó mới lựa chọn doanh nghiệp công nghệ trong nước có khả năng đáp ứng.

 

Cách làm này đưa cơ hội liên kết với khu vực FDI tới những nhu cầu cung ứng cụ thể. Giá trị của hoạt động kết nối nằm ở khả năng hình thành quan hệ hợp tác, ứng dụng công nghệ và hợp đồng giữa các bên.

 

Cùng với kết nối thị trường, Hà Nội chú trọng nâng năng lực của đội ngũ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp. Ông Mạc Quốc Anh nhấn mạnh doanh nghiệp cần ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, nâng năng lực quản trị và chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu đổi mới.

 

Từ dữ liệu xử lý kiến nghị, Hà Nội sẽ hình thành hệ thống đánh giá hiệu quả chính sách hằng năm. Ông Trương Việt Dũng yêu cầu theo dõi sau 6 tháng, 12 tháng, chính sách đã tạo ra bao nhiêu sản phẩm, ứng dụng, hợp đồng, doanh thu, việc làm và nguồn vốn xã hội huy động thêm.

 

Việc đánh giá phải đi qua toàn bộ chu trình, từ thiết kế chính sách, xác định đúng đối tượng, chủ động đưa chính sách tới doanh nghiệp, tổ chức thực hiện đến đo lường kết quả và điều chỉnh. Một chính sách cần được xem xét bằng mức độ sử dụng và hiệu quả thực tế.

 

Theo Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội, doanh nghiệp chịu trách nhiệm về sản phẩm, công nghệ, thị trường và hiệu quả kinh doanh. Chính quyền có nhiệm vụ làm cho hành trình từ ý tưởng đến sản phẩm, từ sản phẩm đến thử nghiệm, từ thử nghiệm đến thị trường và từ thị trường đến vốn ngắn hơn, rõ hơn, có người chịu trách nhiệm ở từng bước.

 

Đó cũng là yêu cầu để những cơ chế hỗ trợ tạo sức bật bền vững cho kinh tế tư nhân: nguồn lực đến đúng nhu cầu, công nghệ tìm được nơi ứng dụng và doanh nghiệp có thêm điều kiện phát triển bằng năng lực cạnh tranh của mình.

Hà Nội sẽ hỗ trợ 70% kinh phí, tối đa 100 triệu đồng mỗi doanh nghiệp, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tham gia khóa đào tạo, huấn luyện chuyên sâu ngắn hạn ở nước ngoài.

 

Chương trình do Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp Hà Nội thuộc Sở Tài chính Hà Nội tổ chức, thực hiện theo Đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026 đến 2030.

 

Khóa đào tạo dự kiến diễn ra từ ngày 18 đến 24/10/2026 tại Thượng Hải và Tô Châu, Trung Quốc, dành cho 30 lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp. Nội dung gồm ứng dụng AI, công nghệ lõi, chuỗi giá trị toàn cầu, hệ sinh thái công nghệ, mô hình nhà máy thông minh và hoạt động học tập thực tế. Doanh nghiệp đóng góp 30% kinh phí còn lại.

 

 

Ảnh phối cảnh thử nghiệm mô hình kinh tế không gian tầm thấp và taxi bay Ehang.

 

Bình luận bài viết này
Hồ Hạ 01/10/2026 10:16