Sông Hồng đang đứng trước bước chuyển quan trọng, từ không gian từng bị chia cắt với đô thị bởi hệ thống đê điều trở thành trục phát triển chiến lược của Hà Nội. Với phạm vi nghiên cứu dài khoảng 40 km, tổng diện tích 11.418 ha, trải từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở, Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng được xác định là một trong 9 động lực phát triển của Thủ đô.
Quy hoạch hướng tới hình thành hai tuyến đại lộ dọc hai bờ, 11 dự án công viên rộng khoảng 3.513 ha, các khu đô thị định cư, trung tâm tài chính, thương mại, dịch vụ, đổi mới sáng tạo và những không gian văn hóa mang tính biểu tượng.
Đây là bước chuyển mạnh mẽ trong tư duy quy hoạch, đưa Hà Nội từ đô thị “quay lưng ra sông” sang “hướng mặt vào sông”, đồng thời kết nối khu vực phía Bắc và phía Nam thành một chỉnh thể thống nhất. Tầm nhìn lớn ấy cũng đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn thoát lũ, bảo vệ sinh thái, bảo tồn di sản, tổ chức tái định cư và duy trì sinh kế cho cộng đồng ven sông.

Sông Hồng giữ vai trò đặc biệt trong lịch sử hình thành và phát triển của Hà Nội. Dòng sông bồi đắp nên vùng đất trù phú, nuôi dưỡng nền văn minh lúa nước, đồng thời tạo lập không gian văn hóa, sinh kế và giao thương gắn bó lâu đời với nhiều thế hệ cư dân Thủ đô.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển đô thị, yêu cầu phòng, chống lũ đã dẫn tới việc hình thành hệ thống đê dọc hai bờ. Các tuyến đê bảo vệ khu vực trung tâm nhưng cũng tạo nên sự ngăn cách giữa dòng sông với thành phố. Không gian ven sông, nhất là khu vực ngoài đê, chưa được đầu tư tương xứng với vị trí của một trục cảnh quan trung tâm. Hạ tầng giao thông và hạ tầng kỹ thuật còn thiếu đồng bộ, nhiều tuyến đường dân sinh nhỏ hẹp, cảnh quan phân tán, tình trạng lấn chiếm và sử dụng đất chưa phù hợp vẫn tồn tại.
Theo số liệu trong hồ sơ điều chỉnh quy hoạch, phạm vi nghiên cứu hiện có khoảng 3.626 ha mặt nước, chiếm gần 32% tổng diện tích, trong đó mặt nước sông khoảng 3.378 ha. Đất sản xuất nông nghiệp khoảng 5.741 ha, chiếm xấp xỉ 50%; đất ở khoảng 1.102 ha, chiếm gần 10%; các chức năng khác khoảng 949 ha. Tổng dân số hiện trạng khoảng 279.525 người, phân bố tại cả khu vực đô thị và ngoại thành.
Sự hiện diện của một quỹ đất rộng lớn, hệ thống mặt nước liên tục và vị trí đi xuyên giữa đô thị trung tâm tạo cho sông Hồng lợi thế hiếm có. Song chính các đặc điểm ấy cũng đặt ra những yêu cầu đặc biệt về an toàn đê điều, khả năng thoát lũ, bảo vệ môi trường, tổ chức lại không gian dân cư và duy trì sinh kế.
Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, tỷ lệ 1/5000, đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở vì thế được đặt trong một tư duy phát triển mới. Thay vì tiếp tục coi sông Hồng là ranh giới tự nhiên chia cắt đô thị, Hà Nội định hướng đưa dòng sông trở thành trục kết nối, nơi hội tụ các chức năng cảnh quan, văn hóa, giao thông, dịch vụ, thương mại và đổi mới sáng tạo.
Đây là bước chuyển từ đô thị “quay lưng ra sông” sang đô thị “hướng mặt vào sông”, trả lại cho dòng sông vị trí trung tâm trong cấu trúc phát triển của Thủ đô.

Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm xác định cấu trúc không gian gồm 9 cực phát triển, 9 trung tâm lớn và 9 trục động lực. Trong cấu trúc đó, Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng được xác định là một trong những động lực phát triển quan trọng của Thủ đô.
Trục sông Hồng mang nhiều tầng chức năng. Đây là trục chiến lược, trục không gian xanh trung tâm, đồng thời là trục kinh tế, thương mại, dịch vụ và đô thị gắn với văn hóa sáng tạo, khoa học công nghệ. Không gian ven sông được kỳ vọng trở thành biểu trưng cho hình ảnh Hà Nội “Văn hiến, Bản sắc, Sáng tạo”, hướng tới một Thủ đô văn minh, hiện đại và có sức cạnh tranh quốc tế.
Phạm vi nghiên cứu của đồ án trải dài khoảng 40 km theo hướng Tây Bắc, Đông Nam, từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở, đi qua địa giới hành chính của 16 xã, phường. Phía Bắc đến đê Tả sông Hồng, phía Nam đến đê Hữu sông Hồng, phía Tây giáp cầu Hồng Hà và phía Đông giáp cầu Mễ Sở. Tổng diện tích nghiên cứu khoảng 11.418 ha, quy mô dân số dự báo từ 800.000 đến 1,2 triệu người.
Không gian này sẽ kết nối đô thị trung tâm phía Bắc và phía Nam sông Hồng thành một cấu trúc hoàn chỉnh, thống nhất. Hệ thống giao thông ven sông, cầu vượt sông, đường bộ, đường thủy và đường sắt đô thị được định hướng phát triển đồng bộ, tạo khả năng tiếp cận thuận tiện giữa hai bờ, giữa khu vực ven sông với các trung tâm hiện hữu và các cực tăng trưởng mới.
Ở phạm vi rộng hơn, trục sông Hồng còn giữ vai trò liên kết Hà Nội với các địa phương dọc dòng sông và vùng đồng bằng sông Hồng. Định hướng quy hoạch đặt trục này trong mối liên hệ với chuỗi động lực phía Nam gồm Thường Tín, đô thị văn hóa, thể thao và cực Phú Xuyên; đồng thời kết nối với chuỗi đô thị Văn Giang, Phố Hiến, Hưng Yên thông qua hệ thống cầu vượt sông và các trục vành đai.
Giai đoạn đầu tập trung vào đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở. Trong giai đoạn tiếp theo, không gian nghiên cứu có thể được mở rộng từ cầu Hồng Hà đến hết ranh giới phát triển đô thị phía Tây và từ cầu Mễ Sở đến hết ranh giới phát triển đô thị phía Nam Thành phố.
Với cách tiếp cận đó, sông Hồng sẽ không còn là khoảng trống nằm giữa các khu vực đô thị. Dòng sông trở thành xương sống cảnh quan, văn hóa, lịch sử và môi trường, đồng thời mở ra dư địa phát triển kinh tế, dịch vụ và kết nối vùng cho Hà Nội trong nhiều thập niên tới.

Hạ tầng giao thông giữ vai trò dẫn dắt trong việc tổ chức lại không gian hai bên sông. Phương án quy hoạch xác định hai tuyến đại lộ cảnh quan dọc bờ tả và bờ hữu, kết nối với mạng lưới cầu vượt sông, các đường vành đai, đường hướng tâm, đường sắt đô thị và giao thông đường thủy.
Tuyến bờ tả có điểm đầu tại nút giao cầu Hồng Hà, thuộc xã Mê Linh; điểm cuối tại địa phận xã Bát Tràng, kết nối với trục di sản của tỉnh Hưng Yên. Chiều dài tuyến khoảng 35,04 km, diện tích chịu ảnh hưởng khoảng 372,24 ha.
Tuyến bờ hữu bắt đầu tại nút giao cầu Hồng Hà, thuộc xã Ô Diên, kết thúc tại Vành đai 4, khu vực cầu Mễ Sở, thuộc xã Hồng Vân. Tuyến dài khoảng 45,34 km, diện tích chịu ảnh hưởng khoảng 341,41 ha.
Như vậy, hai tuyến đại lộ có tổng chiều dài khoảng 80,38 km, tạo thành hệ thống giao thông liên hoàn dọc hai bờ. Hướng tuyến cơ bản bám theo hệ thống đê hiện hữu, kết hợp các giải pháp cầu cạn, hầm chui, tường chắn hoặc điều chỉnh vị trí tại những khu vực có công trình thủy lợi, di tích và khu dân cư lâu đời.
Tại phường Hồng Hà, tuyến bờ hữu đi qua khu vực từ cầu Nhật Tân đến cầu Vĩnh Tuy với chiều dài khoảng 11,2 km. Đoạn qua cầu Long Biên được đề xuất tổ chức hầm chui nhằm duy trì kết nối và hạn chế ảnh hưởng đến công trình hiện có. Ở phường Thượng Cát và Đông Ngạc, phương án hướng tuyến nghiên cứu cầu vượt vòng ra phía sông tại khu vực trạm bơm Liên Mạc, đồng thời tránh tác động trực tiếp đến chùa Hoàng Xá và đình Chèm.
Tại phường Phú Thượng, tuyến đường kết nối cầu Thăng Long với cầu Nhật Tân, cơ bản chạy dọc theo đê. Một số đoạn sát mép sông được nghiên cứu xây dựng cầu cạn hoặc công trình bảo vệ phù hợp. Ở phía Nam, tuyến tiếp tục kết nối các khu vực Lĩnh Nam, Thanh Trì, Nam Phù và Hồng Vân với cầu Thanh Trì, cầu Ngọc Hồi, cầu Mễ Sở và Vành đai 4.
Hệ thống cầu qua sông giữ vai trò đặc biệt trong cấu trúc giao thông. Khu vực nghiên cứu có 6 cầu hiện hữu gồm Thăng Long, Nhật Tân, Long Biên, Chương Dương, Vĩnh Tuy và Thanh Trì; cùng 6 cầu đang thi công gồm Hồng Hà, Thượng Cát, Tứ Liên, Trần Hưng Đạo, Ngọc Hồi và Mễ Sở.
Khi hai tuyến đại lộ và mạng lưới cầu được hình thành đồng bộ, không gian phía Bắc và phía Nam sông Hồng sẽ được kết nối chặt chẽ hơn. Khả năng tiếp cận các công viên, trung tâm dịch vụ, khu dân cư và điểm du lịch ven sông cũng được mở rộng, tạo điều kiện để hạ tầng trở thành lực đẩy cho phát triển kinh tế và tái cấu trúc đô thị.

Đồ án chia toàn bộ phạm vi nghiên cứu thành ba phân đoạn chính, mỗi phân đoạn có đặc điểm và định hướng phát triển riêng.
Phân đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Thăng Long có diện tích khoảng 3.436 ha. Khu vực này được định hướng phát triển đô thị, cải tạo và chỉnh trang làng xóm truyền thống, kết hợp công viên cây xanh sinh thái, bảo tồn tự nhiên và tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao.
Phân đoạn từ cầu Thăng Long đến cầu Thanh Trì có diện tích khoảng 4.548 ha, được xác định là khu vực trọng tâm và là “phòng khách đô thị” của Hà Nội. Đây là nơi tập trung các hoạt động tái thiết đô thị, trung tâm tài chính, thương mại, dịch vụ, đổi mới sáng tạo và các công trình điểm nhấn, đồng thời tạo lập mối liên kết không gian giữa Hồ Tây với Cổ Loa.
Khái niệm “phòng khách đô thị” thể hiện tham vọng hình thành một không gian đại diện cho diện mạo và sức sống mới của Thủ đô. Không gian này vừa có chức năng đón tiếp, giao lưu và tổ chức sự kiện, vừa tạo môi trường phát triển cho tài chính, thương mại, công nghệ, văn hóa, nghệ thuật và các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao.
Đây cũng là khu vực có khả năng tạo ra sự thay đổi rõ nét nhất trong mối quan hệ giữa thành phố và dòng sông. Những công trình điểm nhấn, quảng trường, công viên, không gian văn hóa và tuyến đi bộ ven sông có thể hình thành một trung tâm sinh hoạt công cộng mới, bổ sung cho hệ thống không gian truyền thống của Hà Nội.
Phân đoạn từ cầu Thanh Trì đến cầu Mễ Sở có diện tích khoảng 3.435 ha. Khu vực này được định hướng phát triển các cụm công viên, khu đô thị định cư và đa mục tiêu tại phường Lĩnh Nam, các khu dịch vụ, thương mại, không gian nông nghiệp sinh thái và khu bảo tồn làng nghề Bát Tràng.
Toàn bộ đồ án gồm 18 dự án thành phần, trong đó có 2 dự án đầu tư tuyến giao thông Trục đại lộ cảnh quan bờ tả và bờ hữu, 11 dự án công viên với quy mô khoảng 3.513 ha, 2 dự án kè và chỉnh trị lòng sông, bờ sông cùng 3 dự án đô thị định cư và đa mục tiêu.
Tiến độ dự kiến kéo dài từ năm 2026 đến năm 2038. Trong giai đoạn 2026 đến 2030, Hà Nội tập trung triển khai hai tuyến đại lộ cảnh quan, các công trình kè và chỉnh trị lòng, bờ sông, Công viên công cộng phường Phú Thượng, công viên tại bãi sông phường Hồng Hà, khu vực “phòng khách đô thị”, các khu đô thị định cư tại phường Lĩnh Nam, phường Long Biên và dự án giải phóng mặt bằng độc lập. Những dự án thành phần còn lại dự kiến được hoàn thành trong giai đoạn 2030 đến 2038.
Việc tổ chức thành 18 dự án thành phần cho thấy đây không phải một tuyến đường đơn lẻ. Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng là chương trình đầu tư tổng hợp, bao gồm giao thông, chỉnh trị sông, công viên, tái thiết đô thị, tái định cư và phát triển các không gian kinh tế mới.

Một trong những giá trị nổi bật của đồ án là định hướng hình thành hệ thống công viên, không gian xanh và mặt nước quy mô lớn. Với 11 dự án công viên, tổng diện tích khoảng 3.513 ha, trục sông Hồng có khả năng trở thành không gian công cộng lớn của Hà Nội.
Các công viên văn hóa kết hợp sinh thái, công viên chuyên đề, khu vui chơi giải trí, đường dạo và không gian cộng đồng được tổ chức dọc hai bờ. Người dân có thể tiếp cận thuận tiện bằng giao thông công cộng, xe đạp hoặc đi bộ, tham gia các hoạt động thể thao, lễ hội, sự kiện văn hóa và nghỉ ngơi giữa thiên nhiên.
Không gian xanh ven sông còn tạo điều kiện phát triển du lịch, thương mại, dịch vụ và kinh tế đêm. Những khu vực như Nhật Tân, Tứ Liên, Bát Tràng, Giang Cao, Kim Lan có lợi thế để xây dựng sản phẩm gắn với hoa, cây cảnh, làng nghề, ẩm thực, trải nghiệm văn hóa và du lịch đường sông.
Phạm vi quy hoạch hiện có 123 công trình di tích, gồm 1 di tích quốc gia đặc biệt, 26 di tích cấp quốc gia, 35 di tích cấp thành phố và 61 di tích chưa được xếp hạng. Ngoài ra còn có 14 địa điểm lưu niệm sự kiện cách mạng, kháng chiến cùng hệ thống làng nghề và làng lâu đời gắn với lịch sử phát triển của khu vực ven sông.
Đồ án đặt ra nguyên tắc bảo tồn các di tích lịch sử, văn hóa gắn với cộng đồng dân cư; giữ gìn khu vực lõi của các làng nghề truyền thống, làng có giá trị về kiến trúc, lịch sử, văn hóa vật thể và phi vật thể; đồng thời cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc các làng xóm lâu đời.
Tại Bát Tràng, việc tổ chức không gian đô thị cần gắn với bảo tồn nghề gốm và chuỗi làng Bát Tràng, Giang Cao, Kim Lan. Khu vực Nhật Tân, Tứ Liên có thể phát triển công viên chuyên đề kết hợp nghề trồng đào, quất cảnh và các hoạt động du lịch trải nghiệm. Những giá trị bản địa này là phần cốt lõi tạo nên bản sắc riêng, giúp trục sông Hồng tránh trở thành một dải đô thị hiện đại nhưng thiếu ký ức và chiều sâu văn hóa.
Với định hướng phù hợp, 3.513 ha công viên sẽ không dừng ở vai trò tạo cảnh quan. Đây có thể trở thành nền tảng phát triển kinh tế dịch vụ, công nghiệp văn hóa, du lịch, thể thao và tổ chức sự kiện; đồng thời góp phần nâng cao chất lượng sống, mở rộng khả năng tiếp cận không gian xanh cho người dân.

Quy mô lớn và tiềm năng phát triển mạnh mẽ khiến yêu cầu bảo đảm an toàn phòng, chống lũ trở thành nguyên tắc xuyên suốt. Mọi hoạt động khai thác không gian hai bên sông phải tôn trọng địa hình tự nhiên, không thu hẹp không gian thoát lũ và tuân thủ quy hoạch đê điều đã được phê duyệt.
Đồ án nghiên cứu khai thác bãi sông theo ba mức thềm địa hình. Khu vực có cao độ trên 11,5 m có thể nghiên cứu xây dựng mới. Khu vực từ 9,5 m đến 11,5 m được tổ chức thành không gian linh hoạt, phù hợp với công trình thích ứng và dân cư hiện có. Khu vực dưới 9,5 m ưu tiên phục hồi sinh thái, tổ chức giao thông chậm, cảnh quan và đường dạo.
Những giải pháp như mô đun kiến trúc có thể tháo dỡ, đê lũ sinh thái dạng bậc thang và vườn mưa giữ phù sa được đề xuất nhằm thích ứng với đặc điểm của bãi sông. Hướng tuyến giao thông ưu tiên bám sát đê hiện hữu để tận dụng hạ tầng, hạn chế tác động đến dòng chảy và bảo đảm an toàn cho hệ thống phòng, chống lũ.
Diện tích xây dựng và tôn cao bãi sông được đề xuất khoảng 3.900 ha trên cơ sở báo cáo mô hình tính toán thủy văn, thủy lực và đánh giá tác động đến an toàn thoát lũ do Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam lập. Nội dung này đã được UBND TP. Hà Nội và Bộ Nông nghiệp và Môi trường thống nhất tại Thông báo số 467/TB ngày 6/5/2026. Trong các bước tiếp theo, việc xây dựng công trình tại bãi sông vẫn phải được kiểm soát chặt chẽ về cao độ nền, giải pháp phòng, chống lũ và tác động đến hệ thống đê điều.
Cùng với an toàn dòng chảy, việc sắp xếp lại dân cư là bài toán lớn. Đồ án xác định các khu vực cần di dời, tái thiết hoặc cải tạo, chỉnh trang trên cơ sở mức độ an toàn phòng, chống lũ, phạm vi xây dựng tuyến giao thông và yêu cầu kiến tạo không gian “phòng khách đô thị”.
Nguyên tắc được đặt ra là ưu tiên tối đa việc duy trì địa bàn sinh sống, sinh kế và sự gắn kết cộng đồng. Người dân được xem xét bố trí tái định cư trên cùng địa bàn xã, phường hoặc khu vực lân cận; trường hợp quỹ đất tại chỗ không đáp ứng thì bố trí tại các khu định cư tập trung và khu đô thị đa mục tiêu có hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ.
Nơi ở mới phải bảo đảm điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ, có giao thông kết nối, trường học, cơ sở y tế, chợ dân sinh, không gian sinh hoạt cộng đồng và điều kiện tạo sinh kế. Thành phố dự kiến chỉ thực hiện di dời, giải phóng mặt bằng các hộ dân sau khi đã bố trí nơi ở mới.
Theo hồ sơ, các trường hợp đất ở, đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp đủ điều kiện pháp lý được áp dụng mức bồi thường bằng tiền về đất bằng hai lần so với mức quy định. Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm được xác định bằng năm lần giá đất nông nghiệp. Việc bố trí tái định cư phải hoàn thành trước khi có quyết định thu hồi đất.
Những cơ chế này cho thấy mục tiêu của dự án không dừng ở thay đổi diện mạo không gian. Thành công của trục đại lộ cảnh quan sông Hồng còn phụ thuộc vào khả năng bảo đảm quyền lợi chính đáng, ổn định đời sống và tạo dựng sinh kế lâu dài cho người dân trong vùng ảnh hưởng.
Từ một dòng sông từng bị ngăn cách với đô thị bởi hệ thống đê, sông Hồng đang đứng trước cơ hội trở lại vị trí trung tâm trong đời sống Hà Nội. Hai tuyến đại lộ, 11 công viên, các khu đô thị định cư, không gian văn hóa và hệ thống giao thông liên hoàn có thể tạo nên một trục phát triển mới mang tầm vóc vùng.
Để tầm nhìn ấy trở thành hiện thực, từng dự án thành phần phải được triển khai trên nền tảng quy hoạch chặt chẽ, an toàn thoát lũ, hài hòa lợi ích và tôn trọng những lớp trầm tích văn hóa đã hình thành bên dòng sông. Khi những yêu cầu đó được bảo đảm, Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng sẽ trở thành động lực quan trọng trong hành trình kiến tạo Thủ đô văn minh, hiện đại và bền vững.
Hà Nội lấy ý kiến rộng rãi về quy hoạch đô thị sông Hồng
Theo Kế hoạch số 176/KH-SXD ngày 5/9/2026 của Sở Xây dựng Hà Nội, việc lấy ý kiến về Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, tỷ lệ 1/5000, đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở, được thực hiện trong hai giai đoạn lập và thẩm định quy hoạch.
Trong giai đoạn lập quy hoạch, Thành phố lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư tại 16 phường, xã nằm trong ranh giới quy hoạch cùng 8 phường, xã thuộc vùng ảnh hưởng. Hồ sơ và phiếu lấy ý kiến được niêm yết tại trụ sở UBND xã, phường hoặc điểm sinh hoạt công cộng; đồng thời đăng tải trên trang thông tin điện tử của UBND Thành phố, Sở Xây dựng, Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội và hệ thống thông tin địa phương. Người dân trên toàn Thành phố có thể tham gia góp ý bằng phiếu điện tử trong thời hạn 20 ngày kể từ khi nội dung được công khai.
Sở Xây dựng dự kiến tổ chức các hội nghị vào ngày 11, 17 và 25/9/2026, kết hợp trực tiếp tại điểm cầu UBND Thành phố với trực tuyến tại 126 xã, phường, nhằm tiếp nhận, tổng hợp và giải đáp ý kiến của Nhân dân.
Trong giai đoạn thẩm định, cơ quan quản lý nhà nước có 10 ngày, tổ chức và chuyên gia có 15 ngày để gửi ý kiến bằng văn bản. Báo cáo tiếp thu, giải trình phải được công bố công khai, minh bạch trước khi hoàn thiện hồ sơ trình thẩm định và phê duyệt.