Ông Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ nhận định, sau 25 năm kể từ khi Hoa Kỳ bỏ cấm vận và 24 năm kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, mối quan hệ giữa 2 nước phát triển không ngừng.
Có thế nói, một phần tư thế kỷ là quãng thời gian ngắn so với lịch sử quan hệ giữa hai quốc gia, song quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã có những bước tiến dài.
Ông Phạm Quang Vinh hồi nhớ, sau 20 năm gián đoạn kể từ khi kết thúc chiến tranh Việt Nam, Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào ngày 11/7/1995. Ở thời điểm đó, ít ai ngờ mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ lại tiến triển nhanh đến vậy.

Minh chứng cho điều mình nói, ông Phạm Quang Vinh dẫn dụ: “Có thể kể ra một vài mốc lịch sử, như chỉ 5 năm sau, vào tháng 7/2000, hai nước đã ký kết Hiệp định Thương mại song phương (BTA), và 7 năm sau, vào tháng 11/2007, Hoa Kỳ chấp thuận Quy chế Quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam”.
Cựu Đại sứ dẫn chứng thêm, vào năm 1995, kim ngạch thương mại giữa hai nước chưa đến 300 triệu USD, thì chỉ đúng 10 năm sau, Hoa Kỳ đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và từ đó đến nay, Hoa Kỳ luôn chiếm giữ ngôi vị “quán quân” thị trường xuất khẩu của Việt Nam.

Năm 2018, Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ 47,5 tỷ USD, chiếm 19,5% tổng kim ngạch xuất khẩu. Còn trong 6 tháng đầu năm nay, trong khi tăng trưởng xuất khẩu chung của nước ta chỉ đạt 7,3%, thì xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng tới 27,4% với tổng giá trị 27,5 tỷ USD, chiếm tới 22,4% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Khi mới thiết lập quan hệ ngoại giao, không ai có thể ngờ chỉ chưa đầy 20 năm sau (năm 2018), Việt Nam đã đón trên 687.000 lượt du khách Hoa Kỳ.
Về phương diện ngoại giao, kể từ khi thiết lập quan hệ đến nay, tất cả các đời Tổng thống Hoa Kỳ đều đến thăm Việt Nam, đặc biệt, chỉ trong nửa nhiệm kỳ của mình, Tổng thống Donald Trump đã 2 lần đến Việt Nam.

Các lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Nhà nước Việt Nam, như Thủ tướng Phan Văn Khải, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng đều có các chuyến viếng thăm Hoa Kỳ.
Mỗi chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước đều là những dấu mốc quan trọng trong lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ thời kỳ mới.

Nói chung, trong tất cả các mối quan hệ, từ ngoại giao, thương mại, đầu tư, giáo dục, khoa học… đến an ninh, quốc phòng giữa hai nước đều có bước phát triển mà bất cứ nhà bình luận chính trị nào cũng khó có thể tưởng tượng được.
Là một trong những nhà ngoại giao khá gắn bó với Hoa Kỳ, ông Phạm Quang Vinh cảm nhận rất rõ mối quan hệ nồng ấm giữa hai nước.

“Tôi từng có 2 nhiệm kỳ công tác tại Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, trước khi được bổ nhiệm làm Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ vào tháng 7/2014. Mặc dù là Tùy viên (từ tháng 1/1987 đến tháng 1/1990), nhưng tôi cũng như tất cả nhân viên ngoại giao khác ở Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc muốn đi đâu ra khỏi quận Manhattan (New York) đều phải được sự cho phép của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và nói thật đi đâu cũng rất sợ vì vẫn còn sự thù địch, vì rất nhiều người dân Hoa Kỳ khi đó chỉ biết Việt Nam là đất nước vẫn trong tình trạng chiến tranh”, ông Vinh bật mí.

Tuy nhiên ông cũng khẳng định: Ngay sau khi Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bỏ cấm vận với Việt Nam (năm 1994) và năm sau, hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, thì người Việt được hoàn toàn tự do đi lại trên đất nước Hoa Kỳ.
Chia sẻ với phóng viên báo Đầu tư, ông Vinh cho hay: “Khi tôi công tác tại Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc nhiệm kỳ đầu, hầu như không có sinh viên Việt Nam theo học tại các trường đại học Hoa Kỳ. Đến năm 1995, mới có khoảng 500 - 600 du học sinh Việt Nam theo học tại Hoa Kỳ, nhưng đến nhiệm kỳ sau (từ tháng 7/1996 đến tháng 8/1999), sinh viên Việt Nam theo học tại Hoa Kỳ tăng rất mạnh”.

Ông Vinh cũng không ngờ, chỉ mấy năm sau, vào năm 2016, số sinh viên Việt Nam theo học tại Hoa Kỳ đứng thứ 20 trong số các nước có nhiều sinh viên học tập tại đây và khi tôi trở thành Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, đã có khoảng 16.000 người và hiện tại có khoảng 20.000 sinh viên Việt Nam đang theo học tại Hoa Kỳ, đứng đầu trong số các nước Đông Nam Á và đứng thứ 6 hay 7 trong số các nước có nhiều sinh viên học tập tại Hoa Kỳ.
Đề cập đến những trụ cột chính tạo nên nền tảng vững chắc để thúc đẩy mối quan hệ phát triển hơn nữa giữa Việt Nam – Hoa Kỳ, cựu Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ cho biết: Sau 18 năm thiết lập quan hệ, tất cả các mối quan hệ giữa hai bên có sự phát triển đến không ngờ, nhưng vẫn chưa nâng cấp lên thành đối tác chiến lược.

Tháng 7/2013, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm Hoa Kỳ và hai nước nâng tầm mối quan hệ từ quan hệ thông thường sang “đối tác toàn diện”, nhằm tiếp tục củng cố lòng tin và cùng hướng tới tương lai. Không ai có thể hình dung, sau 18 năm quan hệ với nhau, từ hai phía của chiến tuyến, Việt Nam và Hoa Kỳ đã bước qua “lằn ranh” chia rẽ hai bên, khởi đầu một quá trình hòa giải không hề dễ dàng, từ cựu thù trở thành bè bạn, rồi trở thành đối tác và đối tác toàn diện với 9 trụ cột, bao gồm các lĩnh vực hợp tác như chính trị - ngoại giao, kinh tế - thương mại - đầu tư, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, đến quốc phòng - an ninh, khắc phục hậu quả chiến tranh, giao lưu nhân dân…

Đây là văn bản đặt ra một khuôn khổ chính trị tạo nền tảng phát triển ổn định lâu dài, hướng tới tương lai của cả hai bên. Văn bản hợp tác đối tác toàn diện đã khẳng định nguyên tắc giữa hai bên là tôn trọng, cùng có lợi, cùng phát triển…
Ông Phạm Quang Vinh nhận định: Việc người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam – Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Hoa Kỳ vào tháng 7/2015 đã trở thành một trong những sự kiện được truyền thông thế giới đặc biệt quan tâm, vì đây là lần đầu tiên, người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam thăm Hoa Kỳ.
Theo lịch trình, Tổng thống Barack Obama sẽ tiếp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khoảng một tiếng tại Phòng bầu dục, nhưng cuối cùng cuộc hội đàm đã kéo dài tới 90 phút, cho thấy phía Hoa Kỳ rất coi trọng chuyến thăm này.

Chuyến thăm Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trở thành một sự kiện, một mốc son chói lọi giữa hai nước, đưa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ vươn tới tầm cao mới, với tầm nhìn mới, mở ra thời kỳ phát triển sâu rộng, hiệu quả và thực chất hơn, sâu rộng hơn, hiệu quả hơn, tăng cường lòng tin giữa hai nước, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế.
Nếu như chuyến thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, hai bên nhấn mạnh việc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, thì chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, hai nước đã thông qua Tuyên bố về “Tầm nhìn chung”, trong đó nhấn mạnh việc tôn trọng thể chế chính trị của nhau. Điều này vô cùng quan trọng, vì thể chế chính trị của ta và bạn rất khác nhau.

Tuyên bố “Tầm nhìn chung” trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã và sẽ làm sâu sắc quan hệ đối tác lâu dài, hướng tới tương lai quan hệ song phương và phát huy quan hệ “đối tác toàn diện”.
Trong chuyến thăm Hoa Kỳ của Tống Bí thư Nguyễn Phú Trọng, hai nước đã khẳng định tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.
Việt Nam và Hoa Kỳ tái khẳng định tiếp tục hợp tác song phương trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh, nhấn mạnh cam kết phối hợp trong nhiều lĩnh vực, trong đó có việc xử lý các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, hợp tác an ninh hàng hải, thương mại quốc phòng và chia sẻ thông tin, tìm kiếm và cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa và trao đổi công nghệ quốc phòng.
Đánh giá về việc Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ-Triều Tiên lần thứ hai, cựu Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ khẳng định:
Có lẽ giới phân tích ngoại giao, chính trị trên thế giới còn phải mất nhiều thời gian để nghiên cứu vì sao Hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ - Triều Tiên lại được tổ chức tại Hà Nội mà không phải là nơi nào khác trên thế giới.
Có lẽ giới ngoại giao trên thế giới hết sức bất ngờ khi Tổng thống Donald Trump chọn Hà Nội cho cuộc gặp với nhà lãnh đạo Triều Tiên, Kim Jong Un hồi tháng 2/2019.

Tôi nhớ, vào thời điểm tháng 1/2019, có rất nhiều địa danh được nhắc đến cho việc tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ - Triều Tiên, trong đó có Hà Nội, nhưng Hà Nội không phải là ứng viên hàng đầu. Tuy nhiên, thời điểm đó, tôi có linh tính rằng, Hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ - Triều Tiên chắc chắc sẽ diễn ra tại Hà Nội xuất phát từ một số lý do.
Thứ nhất, chọn tổ chức cuộc gặp gỡ vô cùng quan trọng này ở đâu thì chỗ đó phải đủ niềm tin và độ tin cậy với cả Triều Tiên và Hoa Kỳ. Bởi câu chuyện hòa bình trên bán đảo Triều Tiên nói riêng, khu vực Đông Á nói chung, câu chuyện về quan hệ Hoa Kỳ - Triều Tiên đã kéo dài đến 7 thập kỷ.

Thứ hai, nơi được chọn phải bảo đảm đủ năng lực về hậu cần, vật chất, an ninh, kỹ thuật để đáp ứng việc tổ chức một hội nghị mang ý nghĩa rất lớn và được báo chí đặc biệt quan tâm.

Thứ ba, Việt Nam và Hoa Kỳ từng là cựu thù đã vượt qua được quá khứ đau thương, xây đắp mối quan hệ có thể coi là mẫu mực trong quan hệ ngoại giao trên thế giới. Điều này chắc chắn phía Triều Tiên cũng muốn mục sở thị.

Thứ tư, Việt Nam từng là nước bị Hoa Kỳ cấm vận suốt 20 năm như Triều Tiên hiện nay, đã được xóa bỏ cấm vận và đang mở cửa, hội nhập rất nhanh với thế giới. Nhờ đó, Việt Nam từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, kế hoạch hóa tập trung, phi thị trường đã vượt qua được nghèo đói, càng ngày càng thể hiện được vai trò trong cả kinh tế lẫn ngoại giao trên thế giới. Điều này chắc chắn phía Triều Tiên cũng muốn chứng thực, nghiên cứu, học hỏi khi tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ - Triều Tiên.

Thứ năm, Việt Nam đổi mới, mở cửa, phát triển kinh tế, hội nhập với thế giới, nhưng vẫn giữ được ổn định chính trị. Với Triều Tiên, đây là bài học, là kinh nghiệm vô cùng quý giá.

Với những lý do đó, khi phía Hoa Kỳ đề nghị chọn Hà Nội tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ - Triều Tiên, phía Triều tiên đã đồng ý ngay.
Khi cả 2 phía Hoa Kỳ và Triều Tiên đồng ý chọn Hà Nội để tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh, không chỉ dư luận Hoa Kỳ và Triều tiên, mà cả thế giới đánh giá rất cao vai trò của nước chủ nhà Việt Nam.

Và trên thực tế, chỉ trong khoảng thời gian rất ngắn kể từ khi Hà Nội được lựa chọn tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ - Triều Tiên, chúng ta đã tổ chức cơ sở vật chất, hậu cần, kỹ thuật, an ninh, thông tin liên lạc, phục vụ truyền thông trên khắp nơi trên thế giới đổ về… có thể nói là hoàn hảo.

Truyền thông thế giới đánh giá, việc Việt Nam được lựa chọn tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ - Triều Tiên lần thứ hai đã nâng cao vai trò, vị thế không chỉ của Việt Nam, mà của cả các nước ASEAN. Tôi cho rằng, đánh giá, nhận định này không sai.
Có một điều rất đặc biệt được ông Phạm Quang Vinh đề cập, là trong mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, dù Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hòa “kiểm soát” Thượng viện hay Hạ viện, hay cả lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ; dù người của đảng nào trở thành Tổng thống, thì mối quan hệ giữa hai nước vẫn được tiếp tục củng cố, phát triển.

Mỗi một chính quyền mới của Hoa Kỳ sau kỳ bầu cử Tổng thống thường thay đổi thứ tự ưu tiên trong chính sách đối nội, đối ngoại, kinh tế, an ninh, quốc phòng, nhưng điều đặc biệt là, kể từ khi bình thường hóa quan hệ với Việt Nam đến nay, tất cả 4 đời Tổng thống Hoa Kỳ đều ủng hộ Việt Nam.
Và điều rất thú vị nữa, cả 4 đời Tổng thống Hoa Kỳ đều đến thăm Việt Nam, thậm chí chỉ trong vòng nửa nhiệm kỳ, Tổng thống Donald Trump tới thăm Việt Nam 2 lần và lần gần đây nhất vào tháng 2/2019, ông đã có lời mời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Hoa Kỳ.

Còn ở Quốc hội cũng có điều rất thú vị là, dù đảng nào nắm quyền kiểm soát Thượng viện hay Hạ viện hay cả 2 viện Quốc hội Hoa Kỳ, thì đảng cầm quyền đều coi trọng và phát triển mối quan hệ với quốc gia từng là cựu thù.
Họ luôn muốn thúc đẩy quan hệ với Việt Nam cả trong quan hệ song phương và đa phương trên mọi phương diện, đặc biệt là vấn đề kinh tế, vì không chỉ có Việt Nam mới muốn đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, thị trường nhập khẩu, mà bản thân Hoa Kỳ cũng muốn đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, thị trường nhập khẩu, trong khi Việt Nam là một trong những nước có kim ngạch xuất nhập khẩu lớn nhất thế giới
Ông Phạm Quang Vinh “mổ xẻ” Vì sao Hoa Kỳ cũng cần tăng cường quan hệ với Việt Nam như Việt Nam cần Hoa Kỳ?
Vì Việt Nam ngày càng mở cửa, hội nhập với kinh tế thế giới. Chúng ta đã tham gia tổng cộng 13 hiệp định thương mại tự do và đang đàm phán 3 hiệp định thương mại tự do nữa, trong đó có nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có hiệu lực từ ngày 14/1/2019 và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) vừa được Việt Nam và 28 thành viên Liên minh châu Âu (EU) ký kết hôm 30/6/2019.
Với nền kinh tế cởi mở, Việt Nam là điểm đến của các nhà đầu tư thế giới và tất nhiên doanh nghiệp Hoa Kỳ không muốn đứng bên ngoài.

Về chính trị, ngoại giao, Việt Nam ngày càng khẳng định được vị thế trên trường quốc tế với phương châm, Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm với các tổ chức mà Việt Nam tham gia cũng như cộng đồng quốc tế, nên chính giới Hoa Kỳ cũng gắn bó mật thiết với Việt Nam.
Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao cho rằng sự khác biệt giữa hai quốc gia là điều bình thường, nhưng với Hoa Kỳ, trong chuyến thăm Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào tháng 7/2015, hai nước đã thu hẹp sự khác biệt bằng tuyên bố không chỉ tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, mà còn khẳng định tôn trọng thể chế chính trị của nhau.

Với phương châm và hành động “Nước Mỹ trên hết”, Tổng thống Donald Trump vì sự phát triển nền kinh tế Hoa Kỳ, ông không chỉ tập trung vào vấn đề thương mại công bằng, có đi có lại và chống thâm hụt thương mại, mà còn rút khỏi Thỏa thuận Paris về chống biến đổi khí hậu (COP 21).
Trong khi đó, Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu, vì vậy, giữa Việt Nam và Hoa Kỳ có sự khác biệt trong nhìn nhận, đánh giá về vấn đề này.
Việc rút khỏi COP 21 là quyền của họ, vấn đề là mình phải thuyết phục được họ giúp đỡ mình do bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu.
Khi còn làm Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, tôi đã nhiều lần gặp gỡ, trao đổi với chính giới Hoa Kỳ rằng, tôi không biết các ông quan niệm thế nào về biến đổi khí hậu, nhưng thực tế ở nước tôi, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long bị nước biển dâng, xâm nhập mặn, hạn hán mỗi năm một tăng cả cường độ lẫn số lượng.

Họ đã nhìn nhận ra vấn đề của Việt Nam và cho biết sẵn sàng hợp tác với Việt Nam để giảm thiểu tác hại do nước biển dâng, xâm nhập mặn. Như vậy, dù có sự khác biệt trong vấn đề nào đó, nhưng nếu biết cách xử lý, thì vẫn có thể hợp tác được với nhau, tối đa lợi ích của nhau và hai bên cùng có lợi.

Công việc của một đại sứ rất nhiều và khó có thể kể hết, như việc tiếp xúc với chính giới, cộng đồng doanh nghiệp, giới khoa học, truyền thông… nước sở tại để giới thiệu về chính sách kinh tế, đầu tư, thương mại, ngoại giao…, nên tôi không thể kể hết được, vì đây cũng là công việc của tất cả các đại sứ.

Tuy nhiên, tôi nhớ nhất là trước khi bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ năm 2016 (ngày 8/11/2016), tôi đã liên hệ với Trung tâm Lợi ích quốc gia Hoa Kỳ (một trong những viện nghiên cứu hàng đầu thế giới, tập trung nghiên cứu, đề xuất chính sách của Hoa Kỳ trong quan hệ với các quốc gia trên toàn thế giới, cũng như trong các lĩnh vực như an ninh năng lượng và biến đổi khí hậu), để nói về tương lai quan hệ giữa Việt Nam cũng như châu Á với Hoa Kỳ trong thời gian tới với các học giả, chính giới, doanh nghiệp và phóng viên.
Tại buổi nói chuyện được tổ chức vào ngày 16/11/2016, tôi đã khẳng định, chính quyền kế nhiệm tại Hoa Kỳ cần tiếp tục đẩy mạnh quan hệ với Việt Nam trên nhiều mặt.
Tôi cũng nhấn mạnh đến khuôn khổ quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ, được thiết lập vào năm 2013, cũng như các cột mốc lớn quan hệ trong những năm gần đây, đó là chuyến thăm lịch sử tới Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (tháng 7/2015) và chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Barack Obama (tháng 5/2016), đã tạo đà và mở rộng hơn nữa hợp tác hai nước trên tất cả các lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, đến khoa học - kỹ thuật, giáo dục - đào tạo, an ninh - quốc phòng, đến các vấn đề cùng quan tâm như biến đổi khí hậu, y tế, môi trường… nhưng dư địa để mở rộng hợp tác sâu rộng vẫn còn rất lớn.

Tôi cũng khẳng định với chính giới, doanh nhân, chuyên gia kinh tế và báo chí Hoa Kỳ rằng, Việt Nam sẽ tiếp tục hợp tác với chính quyền mới của Hoa Kỳ, tăng cường quan hệ đối tác toàn diện một cách thực chất, lâu dài và bền vững. Tôi cũng đã trả lời nhiều câu hỏi doanh nghiệp, chuyên gia kinh tế, báo chí về triển vọng thương mại, đầu tư tại Việt Nam, các ưu tiên phát triển của Việt Nam, tình hình hợp tác khu vực…

Buổi nói chuyện rất thành công, và tôi nghĩ, qua buổi nói chuyện này cùng với nhiều hoạt động khác, tôi và các nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Washington trong suốt 25 năm qua đã góp phần nhỏ bé trong việc nâng cao mối quan hệ giữa hai quốc gia.
Bài: Mạnh Bôn
Ảnh: Chí Cường, Đức Thanh
Đồ họa: Hồ Hạ