Sau hơn ba thập niên phát triển, TP.HCM đang thúc đẩy chuyển đổi các khu công nghiệp sang mô hình sinh thái nhằm nâng cao sức cạnh tranh. Tuy nhiên, quá trình này vẫn đối mặt những thách thức về nguồn lực, công nghệ và cơ chế quản lý.

 

 

Sau 15 năm theo đuổi mô hình phát triển bền vững, Khu công nghiệp chuyên sâu Phú Mỹ 3 đang tiến gần đến mục tiêu được công nhận là khu công nghiệp sinh thái. Ngay từ khi bắt đầu xây dựng, dù các tiêu chí về khu công nghiệp sinh thái chưa được quy định cụ thể, chủ đầu tư đã chú trọng hệ thống quản lý nước thải tập trung, phát triển hạ tầng dùng chung và đặt ra yêu cầu quản lý môi trường đối với các doanh nghiệp thứ cấp.

 

Nhắc lại chặng đường này, bà Nguyễn Thị Thảo Nhi, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần Thanh Bình Phú Mỹ cho biết định hướng phát triển bền vững đã được Phú Mỹ 3 theo đuổi từ những ngày đầu, với sự tham gia của cả chủ đầu tư hạ tầng và các doanh nghiệp thứ cấp.

 

Bà Nguyễn Thị Thảo Nhi, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần Thanh Bình Phú Mỹ.

 

 

 

Một ví dụ điển hình là mô hình liên kết giữa các doanh nghiệp thông qua hệ thống cung cấp khí công nghiệp. Một nhà máy chuyên sản xuất khí đảm nhận việc cung ứng cho các cơ sở sản xuất khác bằng mạng lưới đường ống dẫn đến tận hàng rào nhà máy. Những doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng khí công nghiệp có thể tiếp nhận nguồn cung từ hệ thống này, thay vì phải tự đầu tư riêng toàn bộ hạ tầng cung ứng.

 

Theo bà Nhi, đây là mô hình cộng sinh công nghiệp đang được triển khai tại Phú Mỹ 3, giúp kết nối hoạt động sản xuất và hạn chế đầu tư hạ tầng trùng lặp.

 

Sau 15 năm theo đuổi mô hình phát triển bền vững, Khu công nghiệp chuyên sâu Phú Mỹ 3 đang tiến gần đến mục tiêu được công nhận là khu công nghiệp sinh thái.

 

Cùng với khí công nghiệp, Phú Mỹ 3 còn tổ chức cung cấp các dịch vụ điện, nước và những hạng mục hạ tầng phục vụ hoạt động của các nhà đầu tư. Hệ thống xử lý nước thải tập trung được xây dựng từ giai đoạn đầu, với công suất xử lý khoảng 9.000 m3/ngày đêm và quy mô thiết kế có thể nâng lên 45.000 m3/ngày đêm. Các hồ chứa, hồ hoàn thiện và hệ thống quan trắc được bố trí để phục vụ việc quản lý chất lượng nước thải trước khi xả ra môi trường.

 

Bên cạnh việc phát triển hạ tầng phục vụ các doanh nghiệp, khu công nghiệp còn hướng đến hình thành những chuỗi liên kết sản xuất dựa trên đặc điểm ngành nghề của các nhà đầu tư.

 

Ngay từ khi bắt đầu xây dựng, dù các tiêu chí về khu công nghiệp sinh thái chưa được quy định cụ thể, chủ đầu tư đã chú trọng hệ thống quản lý nước thải tập trung, phát triển hạ tầng dùng chung và đặt ra yêu cầu quản lý môi trường đối với các doanh nghiệp thứ cấp.

 

Theo bà Nhi, Phú Mỹ 3 có lợi thế về cảng nước sâu, đồng thời phù hợp với các ngành công nghiệp hạ nguồn sử dụng khí, gas và sản phẩm từ nhà máy hóa dầu. Đây là điều kiện để phát triển các chuỗi cung ứng nguyên vật liệu, hóa chất cơ bản và sản phẩm phục vụ những ngành sản xuất tiếp theo.

 

Trong những chuỗi liên kết như vậy, sản phẩm của nhà máy này có thể trở thành nguyên liệu đầu vào của nhà máy khác. Việc kết nối doanh nghiệp thượng nguồn với doanh nghiệp hạ nguồn không chỉ phục vụ nhu cầu sản xuất mà còn tạo cơ sở để thúc đẩy mô hình cộng sinh công nghiệp.

 

Từ định hướng phát triển bền vững, Phú Mỹ 3 đã nộp hồ sơ đăng ký công nhận khu công nghiệp sinh thái theo Nghị định 35/2022/NĐ-CP. Theo bà Nhi, đây là một trong những khu công nghiệp đầu tiên thực hiện thủ tục này với 21 tiêu chí cần đáp ứng.

 

Các nhà máy đang hoạt động tại KCN Phú Mỹ 3

 

“Phú Mỹ 3 đã có đầy đủ điều kiện để nộp hồ sơ và dự kiến trong 1 - 2 tháng nữa, TP.HCM sẽ cấp giấy chứng nhận khu công nghiệp sinh thái”, bà Nhi nhấn mạnh, quá trình phát triển khu công nghiệp sinh thái đòi hỏi một lộ trình dài hạn, trong đó chủ đầu tư và các doanh nghiệp thứ cấp phải cùng triển khai các giải pháp sử dụng hiệu quả nhiên liệu, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, sản xuất sạch hơn và cộng sinh công nghiệp.

 

Bên cạnh Phú Mỹ 3, nhiều khu công nghiệp đang thúc đẩy chuyển đổi sinh thái thông qua các chương trình hỗ trợ kỹ thuật.

 

TS. Nguyễn Trâm Anh, Quản lý Dự án quốc gia Chương trình Khu công nghiệp sinh thái toàn cầu tại Việt Nam thuộc Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO)

 

TS. Nguyễn Trâm Anh, Quản lý Dự án quốc gia Chương trình Khu công nghiệp sinh thái toàn cầu tại Việt Nam thuộc Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO), cho biết từ năm 2014, với sự tài trợ của Chính phủ Thụy Sĩ thông qua SECO, UNIDO đã phối hợp với các cơ quan Việt Nam hỗ trợ xây dựng nền tảng chính sách và triển khai các mô hình khu công nghiệp sinh thái.

 

Đến nay, chương trình đã hỗ trợ 10 khu công nghiệp và khoảng 160 doanh nghiệp, triển khai hơn 1.200 giải pháp sử dụng hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn. Những giải pháp này giúp tiết kiệm khoảng 200.000 MWh điện, gần 1 triệu m3 nước và giảm hơn 340.000 tấn CO2 mỗi năm. Tổng vốn đầu tư đạt hơn 42 triệu USD, mang lại mức tiết kiệm gần 10 triệu USD mỗi năm.

 

 

Tại Khu công nghiệp Hiệp Phước, mức độ đáp ứng Khung quốc tế về khu công nghiệp sinh thái tăng từ 44% lên 76% sau quá trình hỗ trợ. Tương tự, Khu công nghiệp AMATA tăng từ 41% lên 87%, còn DEEP C tăng từ 47% lên 83%. Đây là kết quả đánh giá mức độ đáp ứng khung tiêu chí quốc tế, không đồng nghĩa với việc các khu công nghiệp đã được cấp chứng nhận sinh thái.

 

Theo TS. Nguyễn Trâm Anh, chuyển biến quan trọng còn nằm ở cách tiếp cận của các chủ đầu tư. Thay vì chỉ tập trung cho thuê đất, các khu công nghiệp ngày càng chú trọng phát triển dịch vụ, hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng hiệu quả tài nguyên, chia sẻ hạ tầng và triển khai cộng sinh công nghiệp.

 

Những mô hình tại Phú Mỹ 3, Hiệp Phước và các khu công nghiệp tham gia chương trình UNIDO cho thấy quá trình xanh hóa đang được thực hiện bằng những giải pháp cụ thể trong quản lý tài nguyên và tổ chức sản xuất. Đây cũng là kinh nghiệm để TP.HCM thúc đẩy chuyển đổi trên quy mô rộng hơn.

 

 

Hơn ba thập niên trước, sự ra đời của những khu chế xuất đầu tiên đã mở ra một giai đoạn mới trong phát triển công nghiệp TP.HCM. Mô hình tập trung các nhà máy trong những khu vực có hạ tầng được đầu tư đồng bộ từng bước tạo điều kiện thu hút vốn nước ngoài, mở rộng sản xuất, giải quyết việc làm và đưa Thành phố trở thành một trong những trung tâm công nghiệp lớn của cả nước.

 

Sau nhiều thập niên mở rộng, hệ thống khu chế xuất, khu công nghiệp đã tạo dựng được một nền tảng sản xuất đáng kể. Tuy nhiên, chính những khu công nghiệp hình thành trong giai đoạn đầu phát triển nay đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi mô hình hoạt động.

 

Theo HEPZA, riêng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 3.209 dự án, tổng vốn đăng ký 57,57 tỷ USD

 

Theo Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp TP.HCM (HEPZA), sau hợp nhất, Thành phố có 105 khu chế xuất, khu công nghiệp trong quy hoạch, trong đó 58 khu đang hoạt động. Toàn hệ thống hiện có 5.380 dự án đầu tư còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký khoảng 79,22 tỷ USD. Riêng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 3.209 dự án, tổng vốn đăng ký 57,57 tỷ USD.

 

Những con số này phản ánh quy mô của một hệ thống công nghiệp đã được tích lũy qua nhiều giai đoạn. Song, khi yêu cầu phát triển thay đổi, quy mô thu hút đầu tư không còn là thước đo duy nhất đối với hiệu quả hoạt động của khu công nghiệp.

 

HEPZA đánh giá nhiều khu công nghiệp truyền thống đã cơ bản lấp đầy, nhưng chất lượng dự án, hàm lượng công nghệ, hiệu quả sử dụng đất và đóng góp ngân sách trên mỗi đơn vị diện tích chưa đồng đều. Trong khi đó, các khu công nghiệp mới hoặc đang lập quy hoạch còn gặp khó khăn về chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng, thủ tục và triển khai hạ tầng.

 

Điều này đặt TP.HCM trước hai yêu cầu song song. Với những khu công nghiệp hiện hữu, vấn đề là nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đổi mới công nghệ và cải thiện chất lượng hoạt động sản xuất. Còn với các khu công nghiệp đang phát triển, yêu cầu đặt ra là chuẩn bị mô hình hạ tầng và phương thức vận hành phù hợp với định hướng công nghiệp xanh ngay từ đầu.

 

Trong ảnh là KCX Tân Thuận. Hơn ba thập niên trước, sự ra đời của những khu chế xuất đầu tiên đã mở ra một giai đoạn mới trong phát triển công nghiệp TP.HCM

 

Nghiên cứu trước đây của Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM (HIDS, nay là Học viện Cán bộ TP.HCM) cũng cho thấy, dù một bộ phận doanh nghiệp đã bắt đầu cải thiện hiệu quả sử dụng điện năng, kiểm soát phát thải và ứng dụng công nghệ sạch.

 

Tuy nhiên, việc sử dụng năng lượng tái tạo, tái sử dụng nước thải, tái chế chất thải rắn và áp dụng các tiêu chuẩn quản lý quốc tế vẫn còn hạn chế. Đặc biệt, cộng sinh công nghiệp và kinh tế tuần hoàn mới ở giai đoạn khởi động, chưa trở thành xu hướng phổ biến.

 

Như vậy, thách thức không chỉ nằm ở việc nâng cấp một số hạng mục hạ tầng môi trường. Để chuyển sang mô hình sinh thái, khu công nghiệp còn phải thay đổi cách sử dụng năng lượng, nước, nguyên vật liệu và tổ chức mối liên kết giữa các doanh nghiệp.

 

Nếu trong mô hình truyền thống, mỗi nhà máy chủ yếu tổ chức hoạt động sản xuất theo nhu cầu riêng, thì mô hình sinh thái đặt ra yêu cầu phối hợp ở quy mô toàn khu công nghiệp. Chủ đầu tư hạ tầng không chỉ cung cấp mặt bằng và các dịch vụ kỹ thuật, mà còn tham gia kết nối doanh nghiệp, thúc đẩy sử dụng chung nguồn lực và triển khai các giải pháp sản xuất sạch hơn.

 

Ông Nguyễn Văn Tiến, Phó chủ tịch Liên chi hội Bất động sản công nghiệp Việt Nam (VIREA)

 

Theo ông Nguyễn Văn Tiến, Phó chủ tịch Liên chi hội Bất động sản công nghiệp Việt Nam (VIREA), TP.HCM và khu vực phía Nam là một trong những địa bàn phát triển bất động sản công nghiệp từ rất sớm. Phần lớn các khu công nghiệp trước đây được hình thành theo mô hình truyền thống, nhưng trước yêu cầu thu hút dòng vốn đầu tư mới, bản thân các khu công nghiệp phải chủ động thay đổi.

 

Ông Tiến cho rằng chuyển đổi sang khu công nghiệp xanh, đáp ứng các yêu cầu ESG và phát triển theo mô hình sinh thái là điều kiện cần để nâng cao sức cạnh tranh. Quá trình này đòi hỏi các chủ đầu tư phải có định hướng và kế hoạch cụ thể, thay vì tiếp tục duy trì phương thức phát triển trước đây.

 

Ông Tiến cho rằng chuyển đổi sang khu công nghiệp xanh, đáp ứng các yêu cầu ESG và phát triển theo mô hình sinh thái là điều kiện cần để nâng cao sức cạnh tranh. Trong ảnh là KCN VSIP tại TPHCM. 

 

Lãnh đạo VIREA cho rằng, khu công nghiệp thế hệ mới phải chú trọng yếu tố môi trường, hệ sinh thái, ứng dụng công nghệ cao và công nghệ thân thiện với môi trường. Đồng thời, cần hướng đến mô hình đô thị công nghiệp, nơi hoạt động sản xuất được kết hợp với những điều kiện phục vụ đời sống người lao động.

 

Trong bối cảnh đó, TP.HCM đang xây dựng bộ tiêu chí và lộ trình chuyển đổi khu công nghiệp sinh thái phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Theo dự thảo nghị quyết do HEPZA lấy ý kiến, Thành phố đề xuất bổ sung một số yêu cầu trên cơ sở kế thừa các tiêu chí khu công nghiệp sinh thái tại Nghị định 35/2022/NĐ-CP.

 

Một trong những nội dung đáng chú ý là đề xuất tối thiểu 10% tổng nhu cầu điện năng tiêu thụ hằng năm của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp được đáp ứng từ nguồn năng lượng tái tạo, thông qua điện mặt trời mái nhà, mua bán điện trực tiếp hoặc những nguồn năng lượng tái tạo khác theo quy định.

 

Dự thảo cũng đề xuất khu công nghiệp sinh thái phải có tối thiểu 10% doanh nghiệp sinh thái hoặc ít nhất 25% doanh nghiệp áp dụng các giải pháp sử dụng hiệu quả tài nguyên, sản xuất sạch hơn và kinh tế tuần hoàn. Đối với cộng sinh công nghiệp, mỗi khu phải có ít nhất một hoạt động cộng sinh ở từng hình thức gồm trao đổi yếu tố đầu vào, đầu ra; sử dụng chung hạ tầng và sử dụng chung dịch vụ.

 

Khu công nghiệp AMATA

 

Những yêu cầu này cho thấy mô hình khu công nghiệp sinh thái không chỉ được đánh giá qua hệ thống xử lý môi trường, mà còn qua mức độ tham gia của các doanh nghiệp trong việc sử dụng tài nguyên và tổ chức sản xuất.

 

Theo lộ trình đề xuất, TP.HCM đặt mục tiêu đến năm 2030 có tối thiểu 6 khu công nghiệp đạt tiêu chí chứng nhận khu công nghiệp sinh thái và đến năm 2045 có tối thiểu 10 khu. Tuy nhiên, việc đáp ứng các tiêu chí này sẽ không đơn giản đối với những khu công nghiệp đã hình thành từ lâu, nơi hạ tầng và dây chuyền sản xuất được đầu tư theo mô hình truyền thống.

 

Bài toán chuyển đổi sắp tới không chỉ nằm ở việc ban hành tiêu chí mới, mà còn ở khả năng tạo điều kiện để doanh nghiệp thực hiện những thay đổi trong hoạt động sản xuất.

 

 

Trở lại Phú Mỹ 3, sau khoảng 15 năm theo đuổi mô hình phát triển bền vững, chủ đầu tư đã hình thành hệ thống quản lý môi trường và từng bước phát triển các hoạt động cộng sinh. Tuy nhiên, trong quá trình vận hành, chủ đầu tư đang gặp khó khăn với chính hệ thống quản lý nước thải đã được tổ chức từ những ngày đầu.

 

Theo bà Nguyễn Thị Thảo Nhi, Phú Mỹ 3 áp dụng hai hình thức quản lý nước thải gồm “thu gom để xử lý” và “thu gom để quản lý”. Với những nhà máy chưa xử lý nước thải đạt yêu cầu, khu công nghiệp tiếp nhận về hệ thống xử lý tập trung. Riêng các nhà máy đã xử lý nước thải đạt loại A vẫn phải đấu nối vào hệ thống chung để tiếp tục quan trắc trước khi xả ra môi trường. Nếu phát hiện bất thường, nước thải được chuyển sang hồ sự cố để xử lý lại.

 

Mô hình này đã vận hành nhiều năm, với mức phí xử lý hoặc phí quản lý tương ứng theo thỏa thuận với doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo bà Nhi, quy định pháp luật hiện hành chỉ đề cập việc thu gom nước thải tập trung để xử lý mà chưa quy định rõ hình thức thu gom để quản lý đối với nước thải đã đạt chuẩn.

 

KCN Phú Mỹ 3 đủ điều kiện để trở thành KCN Sinh Thái

 

Điều này khiến Phú Mỹ 3 gặp khó khăn trong việc thực hiện các cam kết với khách hàng. Bà Nhi cho rằng, nếu nước thải đã được xử lý đạt yêu cầu vẫn phải tiếp tục qua quy trình xử lý một lần nữa, doanh nghiệp sẽ phát sinh thêm chi phí không cần thiết. Vì vậy, chủ đầu tư kiến nghị làm rõ quy định về thu gom để quản lý, phù hợp với mô hình đã được triển khai tại khu công nghiệp.

 

Vấn đề tương tự cũng xuất hiện trong hoạt động kinh tế tuần hoàn. Theo bà Nhi, việc tận dụng vật chất phát sinh từ quá trình sản xuất của doanh nghiệp này làm nguyên liệu cho doanh nghiệp khác có thể giúp tiết kiệm tài nguyên, giảm lượng thải. Tuy nhiên, nếu nguồn vật chất được xác định là chất thải, việc chuyển giao và sử dụng sẽ chịu những yêu cầu quản lý khác so với sản phẩm phụ.

 

Vì vậy, quá trình phát triển cộng sinh công nghiệp không chỉ cần sự kết nối giữa các nhà máy mà còn đòi hỏi quy định rõ ràng, phù hợp với đặc điểm sản xuất và tính chất của từng nguồn vật chất. Những vướng mắc tại Phú Mỹ 3 cho thấy ngay cả những khu công nghiệp đã đầu tư cho phát triển bền vững từ nhiều năm trước vẫn có thể gặp khó khăn khi triển khai các mô hình sinh thái trong thực tế.

 

TP.HCM đặt mục tiêu đến năm 2030 có tối thiểu 6 khu công nghiệp đạt tiêu chí chứng nhận khu công nghiệp sinh thái và đến năm 2045 có tối thiểu 10 khu.

 

Ở quy mô toàn Thành phố, thách thức còn nằm ở nguồn lực chuyển đổi. Theo HEPZA, nhiều doanh nghiệp trong các khu công nghiệp hoạt động lâu năm đang sử dụng dây chuyền, thiết bị cũ. Chi phí đổi mới công nghệ hoặc nâng cấp hạ tầng môi trường là trở ngại lớn, trong khi không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ nguồn lực để đầu tư.

 

Đặc biệt, nhiều khu công nghiệp được thành lập từ những năm 1990 hiện chỉ còn thời gian hoạt động dưới 20 năm. Điều này ảnh hưởng đến quyết định đầu tư dài hạn của các doanh nghiệp hiện hữu, nhất là đối với những dự án cần vốn lớn và thời gian thu hồi kéo dài.

 

Để thúc đẩy quá trình chuyển đổi, HEPZA đề xuất hỗ trợ doanh nghiệp 30% tiền thuê lại đất tại khu, cụm công nghiệp trên địa bàn Thành phố trong 5 năm đầu, không bao gồm tiền thuê kết cấu hạ tầng.

 

Trường hợp thuê nhà xưởng, mức hỗ trợ được đề xuất bằng 30% tiền thuê trong 2 năm đầu, tối đa 1 tỷ đồng mỗi năm. Chi phí vận chuyển, lắp đặt máy móc và dây chuyền thiết bị được đề xuất hỗ trợ 50% chi phí hợp pháp thực tế, tối đa 500 triệu đồng mỗi cơ sở.

 

Theo TS. Nguyễn Trâm Anh, Việt Nam đã chuyển từ giai đoạn thí điểm, xây dựng nền tảng sang nhân rộng và thể chế hóa mô hình khu công nghiệp sinh thái. Để thúc đẩy quá trình này, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ cộng sinh công nghiệp, nghiên cứu ưu đãi về thuế, thời gian thuê đất và vốn vay cho các giải pháp phát triển khu công nghiệp sinh thái.

 

Bên cạnh nguồn lực tài chính, bà cho rằng cần nâng cao năng lực kỹ thuật của chủ đầu tư hạ tầng, doanh nghiệp sản xuất và các đơn vị cung cấp dịch vụ trong nước, giúp các khu công nghiệp chủ động đánh giá, triển khai giải pháp và giảm dần sự phụ thuộc vào hỗ trợ kỹ thuật quốc tế.

 

Sau hơn ba thập niên phát triển, TP.HCM đang đứng trước cơ hội chuyển đổi hệ thống khu công nghiệp theo hướng sinh thái và bền vững hơn. Những mô hình tại Phú Mỹ 3 và kết quả chuyển đổi ở Hiệp Phước đã cho thấy những bước đi cụ thể, nhưng quá trình nhân rộng vẫn phụ thuộc vào khả năng tháo gỡ các trở ngại về cơ chế, công nghệ và nguồn vốn.

 

Khi những mối liên kết tương tự được hình thành rộng rãi, khu công nghiệp sẽ không còn đơn thuần là nơi tập trung các nhà máy, mà từng bước trở thành một hệ sinh thái sản xuất có khả năng sử dụng tài nguyên hiệu quả và giảm tác động đến môi trường. Đó cũng là hướng đi để quá trình xanh hóa không chỉ dừng ở việc gia tăng số lượng khu công nghiệp đạt tiêu chí sinh thái, mà tạo ra những thay đổi thực chất trong hoạt động sản xuất, từng bước nâng cao sức cạnh tranh của công nghiệp TP.HCM trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

 

Bình luận bài viết này
Bài: Trọng Tín - Ảnh: Lê Toàn - Thiết kế: Phương Thanh 30/10/2026 08:38