Hà Nội đang đứng trước bài toán phát triển có tính quyết định đối với giai đoạn 2026-2030: làm thế nào chuyển hóa những nguồn lực lớn đang hiện hữu trong đất đai, hạ tầng, các dự án đầu tư và tiềm lực khoa học công nghệ thành năng lực tăng trưởng thực chất của nền kinh tế.
Bài toán ấy càng trở nên cấp thiết khi Thủ đô bước vào chặng nước rút của năm 2026. Sau 9 tháng, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 8,85%; riêng quý III tăng 10,02%, lần đầu tiên trong năm đạt mức tăng trưởng hai con số. Tuy nhiên, kết quả này vẫn thấp hơn kịch bản đề ra, đòi hỏi GRDP quý IV phải tăng 16,55% để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 11% cả năm.
Trong khi yêu cầu tăng trưởng ngày càng cao, một phần nguồn lực phát triển của Thành phố vẫn chưa được khai thác tương xứng. Hàng nghìn hecta đất nằm trong các dự án chậm triển khai, một số công trình hạ tầng đã có mặt bằng nhưng tiến độ thi công chưa đáp ứng yêu cầu, nguồn vốn đầu tư chưa chuyển hóa đầy đủ thành năng lực sản xuất mới. Những vướng mắc về quy hoạch, thủ tục, giải phóng mặt bằng và tái định cư tiếp tục ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.
Tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Đảng bộ TP. Hà Nội khóa XVIII mới đây, các vấn đề về nguồn lực đất đai, tiến độ công trình trọng điểm, xử lý dự án chậm triển khai và phát triển khoa học công nghệ được đặt trong một yêu cầu chung: chuyển hóa nguồn lực thành động lực phát triển Thủ đô.
Đáng chú ý, Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm đã xác lập cấu trúc phát triển theo mô hình 9 cực, 9 trục, 9 động lực. Cùng với việc triển khai các dự án hạ tầng chiến lược, Hà Nội đang từng bước chuyển từ tư duy phát triển dựa trên mở rộng không gian đô thị sang tổ chức lại các nguồn lực, lấy hạ tầng làm yếu tố dẫn dắt, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo làm nền tảng nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Trong định hướng ấy, đất đai, vốn đầu tư, hạ tầng giao thông và các cơ chế phát triển mới cần được kết nối thành một chỉnh thể, tạo điều kiện hình thành những trung tâm kinh tế, đô thị và công nghệ có sức lan tỏa trong dài hạn.

Một trong những thông tin đáng chú ý nhất được công bố tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Đảng bộ TP. Hà Nội là quy mô nguồn lực đất đai có khả năng huy động cho đầu tư phát triển trong những năm tới.
Theo Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Bùi Duy Cường, qua rà soát, Thành phố xác định khoảng 19.325 ha đất có khả năng khai thác, với tổng nguồn thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất ước đạt khoảng 1,5 triệu tỷ đồng. Riêng giai đoạn 2026-2030, nguồn thu dự kiến khoảng 800.000 tỷ đồng.
Đây là quy mô nguồn lực đáng kể trong bối cảnh Hà Nội cần tập trung vốn cho các công trình hạ tầng chiến lược, hệ thống giao thông, chỉnh trang đô thị và những dự án có khả năng tạo động lực phát triển lâu dài. Tuy nhiên, các con số trên mới là ước tính về khả năng khai thác, phụ thuộc vào quy hoạch, điều kiện pháp lý, tiến độ triển khai dự án và khả năng hấp thụ của thị trường.
Trong tổng quỹ đất được rà soát, khoảng 7.501 ha đã được sơ bộ xác định ranh giới; 695 ha thuộc 452 khu đất dự kiến đấu giá quyền sử dụng đất; 2.977 ha thuộc 107 dự án thu hồi đất để đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư.
Đáng chú ý, khoảng 7.013 ha liên quan đến 250 dự án ngoài ngân sách chậm triển khai. Bên cạnh đó là 197 ha thuộc 66 cơ sở sản xuất công nghiệp, y tế, giáo dục và trụ sở cơ quan cần di dời; khoảng 942 ha tại 1.675 điểm đất thuê có thời hạn. Trong tổng quỹ đất được rà soát, khoảng 8.966 ha nằm trong các quỹ đất phát triển đô thị chưa có dự án đầu tư được chấp thuận.
Những con số này cho thấy dư địa khai thác đất đai của Hà Nội còn lớn, đồng thời phản ánh một thực tế: nguồn lực phát triển không hoàn toàn nằm ở những khu đất mới, mà còn hiện diện trong các dự án tồn đọng, những cơ sở sử dụng đất chưa hiệu quả và các không gian đô thị cần được tổ chức lại.
Theo định hướng giai đoạn 2026-2030, TP. Hà Nội dự kiến chuyển đổi khoảng 15.000 ha đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, tập trung vào các quỹ đất đã xác định ranh giới, đất đấu giá, đấu thầu và đất thuộc các dự án chậm triển khai. Quỹ đất chuyển đổi được ưu tiên phục vụ các dự án lớn, công trình hạ tầng, giao thông trọng điểm và tạo quỹ đất đối ứng thanh toán các dự án BT.
Thực tế, nguồn thu từ đất đang đóng góp đáng kể cho ngân sách Thành phố. Trong 9 tháng năm 2026, Hà Nội tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất tại 76 dự án, khu đất với tổng diện tích khoảng 33,6 ha, tổng số tiền trúng đấu giá đạt khoảng 11.262 tỷ đồng. Số thu thực tế khoảng 14.600 tỷ đồng, bao gồm cả khoản thu từ các phiên đấu giá năm 2025 chuyển sang.
Tính đến ngày 8/10/2026, tổng số thu từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đạt 98.618 tỷ đồng, bằng 100,04% chỉ tiêu được giao đầu năm. Ước tính cả năm 2026, nguồn thu từ đất đạt khoảng 146.000 tỷ đồng.
Dù vậy, vấn đề đặt ra không dừng ở việc tăng nguồn thu ngân sách. Trong chiến lược phát triển dài hạn, đất đai còn là nguồn lực để tổ chức lại không gian kinh tế, thu hút đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng hạ tầng.
Khi một tuyến đường vành đai, cây cầu hoặc trục giao thông mới được hình thành, khả năng tiếp cận của những khu vực lân cận được cải thiện, kéo theo tiềm năng gia tăng giá trị đất đai. Nếu được quy hoạch và khai thác hợp lý, một phần giá trị gia tăng này có thể trở thành nguồn lực tái đầu tư cho hạ tầng, tạo điều kiện tiếp tục mở rộng không gian phát triển.
Đây cũng là định hướng được Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng nhấn mạnh khi yêu cầu xây dựng phương án khai thác đất đai gắn với cân đối đầu tư dài hạn, điều tiết hợp lý giá trị tăng thêm từ đất do quy hoạch, đầu tư hạ tầng, chuyển đổi mục đích sử dụng và mở rộng không gian đô thị.
Đặc biệt, TP. Hà Nội yêu cầu tách bạch nguồn thu ngân sách bằng tiền với quỹ đất dự kiến thanh toán cho các dự án BT; tính toán đầy đủ hạ tầng xã hội tại các đô thị phát triển mới, bao gồm trường học, y tế và không gian xanh.
Đối với đất dành cho sản xuất, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, yêu cầu đặt ra là phải tạo được việc làm và nguồn thu thường xuyên. Việc phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê và nhà ở thương mại cũng cần được cân đối hài hòa, phù hợp nhu cầu thực tế của thị trường.
Như vậy, giá trị lớn nhất của nguồn lực đất đai không nằm ở khoản thu một lần, mà ở khả năng chuyển hóa thành hạ tầng, năng lực sản xuất, hoạt động kinh tế và nguồn thu bền vững cho thành phố. Đây chính là điểm khởi đầu của quá trình kiến tạo những cực tăng trưởng mới.

Nếu đất đai tạo nguồn lực tài chính và dư địa phát triển, hạ tầng chiến lược giữ vai trò kết nối, tổ chức và mở rộng không gian kinh tế của Thủ đô.
Trong 9 tháng năm 2026, Hà Nội tập trung triển khai 72 dự án, công trình trọng điểm thuộc các lĩnh vực giao thông đường bộ, thủy lợi, thoát nước và môi trường, với tổng mức đầu tư 230.388 tỷ đồng. Kế hoạch vốn năm 2026 TP. Hà Nội giao cho các dự án là 41.739 tỷ đồng.
Đến ngày 30/9/2026, giá trị giải ngân đạt 33.621 tỷ đồng, tương đương 80,6% kế hoạch. Trong đó, nhóm công trình cầu qua sông đạt tỷ lệ giải ngân 92,8%; đường vành đai đạt 85,7%; các trục hướng tâm, kết nối và nút giao đạt 71,3%; nhóm thủy lợi, thoát nước và môi trường đạt 68,2%.
Có 20 dự án giải ngân từ 98% trở lên, trong đó 11 dự án đạt 100%. Tuy nhiên, vẫn còn 12 dự án giải ngân dưới 50%, cho thấy tiến độ triển khai giữa các nhóm công trình chưa đồng đều.
Trong danh mục công trình trọng điểm có 7 cầu lớn qua sông Hồng, các tuyến đường vành đai, trục hướng tâm, tuyến kết nối và nút giao quan trọng. Đây là những cấu phần hạ tầng có ý nghĩa đối với khả năng kết nối giữa các khu vực, tạo điều kiện tổ chức lại không gian đô thị và phát triển các hoạt động kinh tế mới.
Ở quy mô rộng hơn, thành phố đang tập trung triển khai 84 dự án hạ tầng chiến lược, chưa bao gồm hệ thống đường sắt đô thị, nhằm thúc đẩy hình thành các cực tăng trưởng mới và các đô thị phát triển theo định hướng giao thông công cộng (TOD).
Điểm đáng chú ý là tư duy phát triển hạ tầng của Hà Nội đang có sự thay đổi. Theo Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội Võ Nguyên Phong, Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm đã xác lập cấu trúc phát triển và chuyển sang tư duy “hạ tầng dẫn dắt quy hoạch”. Trên cơ sở đó, thành phố đẩy nhanh tiến độ hoàn thành 125 đồ án quy hoạch, gồm 63 quy hoạch phân khu, 44 quy hoạch chung xã, 13 quy hoạch các khu chức năng và 5 quy hoạch chuyên ngành.
Tư duy này đặt hạ tầng vào vị trí chủ động trong tổ chức không gian phát triển. Một tuyến giao thông mới, xét về hiệu quả kinh tế, không dừng ở khả năng rút ngắn thời gian đi lại. Khi được kết nối đồng bộ với quy hoạch sử dụng đất, đô thị, thương mại, dịch vụ và các khu vực sản xuất, tuyến đường có thể trở thành yếu tố kích hoạt đầu tư, gia tăng khả năng tiếp cận và mở rộng phạm vi hoạt động của nền kinh tế.
Đối với Hà Nội, hệ thống cầu qua sông Hồng, các tuyến vành đai, trục hướng tâm và đường sắt đô thị vì vậy có ý nghĩa vượt ra ngoài chức năng giao thông thông thường. Đây là những điều kiện hạ tầng quan trọng để từng bước hiện thực hóa cấu trúc phát triển theo mô hình 9 cực, 9 trục, 9 động lực.
Trong đó, mô hình TOD mở ra hướng tiếp cận mới đối với phát triển đô thị. Thay vì tổ chức các khu đô thị phụ thuộc chủ yếu vào giao thông cá nhân, TOD định hướng tập trung các hoạt động đô thị quanh hệ thống vận tải hành khách công cộng có năng lực lớn, gắn giao thông với sử dụng đất và phát triển các chức năng kinh tế, xã hội.
Với cách tiếp cận này, đầu tư đường sắt đô thị cần được xem xét đồng thời với quy hoạch các khu vực phụ cận, khả năng phát triển nhà ở, thương mại, dịch vụ, không gian công cộng và kết nối giữa các phương thức vận tải.
Điều đó cũng đặt ra yêu cầu phải có cơ chế khai thác hợp lý giá trị đất đai được tạo thêm từ đầu tư hạ tầng, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
Tuy nhiên, để hạ tầng thực sự dẫn dắt phát triển, tiến độ thi công và khả năng đưa công trình vào khai thác có ý nghĩa quyết định. Tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Đảng bộ TP. Hà Nội, Bí thư Thành ủy Trần Đức Thắng chỉ rõ tình trạng một số dự án đã có mặt bằng nhưng thi công chậm, nhiều vướng mắc kéo dài, chậm nghiệm thu kết quả khiến nguồn lực đầu tư chưa chuyển thành kết quả tăng trưởng.
Thành phố yêu cầu xác định cụ thể điểm nghẽn của từng dự án, thống nhất phương án xử lý, đầu mối chịu trách nhiệm và thời hạn hoàn thành. Đối với những khu vực đã có mặt bằng, cần tổ chức thi công ngay, không chờ hoàn tất giải phóng mặt bằng toàn tuyến.
Yêu cầu này càng có ý nghĩa khi ngành xây dựng đang chịu áp lực lớn về tăng trưởng. Theo Giám đốc Sở Xây dựng Võ Nguyên Phong, giá trị tăng thêm của ngành xây dựng quý III/2026 tăng 13,63%, đưa mức tăng 9 tháng lên 10,89%. Để đạt mục tiêu tăng trưởng 15,03% cả năm, ngành xây dựng phải tăng khoảng 21,69% trong quý IV, tương ứng giá trị sản xuất khoảng 278.000 tỷ đồng.
Như vậy, đẩy nhanh hạ tầng vừa là giải pháp tạo khối lượng xây dựng, đóng góp cho tăng trưởng trước mắt, vừa chuẩn bị điều kiện phát triển cho các năm tiếp theo.
Về dài hạn, hiệu quả của các công trình sẽ được đánh giá bằng khả năng kết nối vùng, thu hút doanh nghiệp, mở rộng hoạt động kinh tế và tạo ra những không gian phát triển có sức lan tỏa.

Bên cạnh huy động nguồn lực mới, một nhiệm vụ quan trọng khác của Hà Nội là giải phóng nguồn lực đang nằm trong những dự án chậm triển khai, sử dụng đất kém hiệu quả hoặc chưa hoàn thành thủ tục đầu tư.
Thực tế cho thấy, nguồn lực bị đình trệ không đơn thuần là phần vốn đã bố trí hay diện tích đất chưa được khai thác. Những dự án kéo dài còn ảnh hưởng đến quy hoạch, khả năng kết nối hạ tầng, môi trường đầu tư và cơ hội phát triển của các khu vực liên quan.
Đối với đầu tư công, thực hiện Kế hoạch số 119/KH-UBND ngày 25/3/2026, Hà Nội đã rà soát 342 dự án. Sau khi loại các trường hợp trùng lặp, dự án đã hoặc dự kiến hoàn thành và hai dự án đường sắt đô thị sử dụng vốn ODA, danh mục còn 320 dự án được phân thành ba nhóm xử lý.
Trong đó, 54 dự án dừng hoặc chấm dứt thực hiện, với tổng mức đầu tư 6.153 tỷ đồng; 76 dự án tạm dừng bố trí vốn để rà soát, tổng mức đầu tư 15.207 tỷ đồng; 190 dự án tiếp tục thực hiện, tổng mức đầu tư 75.592 tỷ đồng.
Việc phân loại này cho thấy yêu cầu nâng cao hiệu quả đầu tư đang được đặt lên hàng đầu. Không phải dự án nào đã được phê duyệt cũng cần tiếp tục triển khai bằng mọi giá. Với những dự án không còn phù hợp hoặc không bảo đảm điều kiện thực hiện, việc dừng hay điều chỉnh có thể giúp hạn chế lãng phí và tạo điều kiện tập trung nguồn lực cho các nhiệm vụ khả thi hơn.
Đối với các dự án đầu tư ngoài ngân sách, thành phố đã tập trung xử lý 341 dự án chậm triển khai. Đến thời điểm báo cáo, 71 dự án được xử lý dứt điểm, gồm 21 dự án hoàn thành, đưa vào sử dụng; 33 dự án chấm dứt hoạt động đầu tư hoặc thu hồi quyết định giao đất; 17 dự án đã khởi công.
Bên cạnh đó, 102 dự án được tháo gỡ vướng mắc, cho phép tiếp tục thực hiện và hoàn thiện thủ tục; 15 dự án tạm dừng để rà soát theo bản án, kết quả giải quyết của cơ quan tư pháp hoặc quy hoạch được phê duyệt.
Với 153 dự án còn lại, TP. Hà Nội tiếp tục xây dựng phương án xử lý. Trong đó, 68 dự án đã được đánh giá sơ bộ tính khả thi để xem xét tiếp tục triển khai hoặc chấm dứt hoạt động đầu tư; 85 dự án tiếp tục được rà soát, đánh giá trong tháng 10/2026.
Đáng chú ý, đối với 191 dự án do các sở, ngành và xã, phường cập nhật, bổ sung, thành phố đã xác định phương án xử lý đối với 96 dự án. Những trường hợp còn lại được yêu cầu hoàn thiện hồ sơ, làm rõ tình trạng pháp lý và nguyên nhân chậm triển khai để xác định phương án xử lý trước ngày 15/12/2026.
Những kết quả này phản ánh nỗ lực tháo gỡ các tồn tại kéo dài, song cũng cho thấy khối lượng công việc còn lớn.
Trong kết luận hội nghị, Bí thư Thành ủy Trần Đức Thắng nhấn mạnh yêu cầu đưa các dự án đã được tháo gỡ vào triển khai thực tế, xác định thời hạn hoàn thành đối với từng cơ quan và từng nhóm dự án.
Đặc biệt, việc xử lý chỉ được coi là hoàn thành khi dự án được khởi công, hoạt động trở lại và đóng góp cho nền kinh tế. Đây là sự chuyển dịch quan trọng trong cách đánh giá hiệu quả điều hành: từ kết quả giải quyết thủ tục sang kết quả đầu tư và giá trị kinh tế thực tế.
Một trong những mắt xích quan trọng nhất của quá trình này là công tác giải phóng mặt bằng. Tại phường Lĩnh Nam, trong quá trình triển khai dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, chính quyền địa phương đã công khai thông tin, ban hành phương án và thực hiện chi trả giải phóng mặt bằng trong tháng 9/2026.
Theo Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Lĩnh Nam Đỗ Thanh Tùng, tạo dựng niềm tin, sự đồng thuận và ủng hộ của người dân là yếu tố then chốt đối với công tác giải phóng mặt bằng.
Bên cạnh việc công khai thông tin và giải đáp kiến nghị, địa phương còn chú trọng nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân thông qua các nhóm cộng đồng trên Facebook, Zalo, tăng cường tương tác và kịp thời tiếp nhận phản ánh.
Cách làm này cho thấy quá trình triển khai những công trình quy mô lớn cần sự kết hợp giữa giải pháp hành chính, trách nhiệm của chính quyền cơ sở và đối thoại với người dân.
Một công trình hạ tầng có thể được quyết định bằng quy hoạch và nguồn vốn, nhưng để hiện thực hóa trên thực địa, công tác tái định cư, bảo đảm quyền lợi hợp pháp và tạo sự đồng thuận của cộng đồng vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Bởi vậy, khơi thông nguồn lực phải được hiểu theo nghĩa rộng hơn việc tháo gỡ thủ tục hay đẩy nhanh giải ngân. Đó còn là quá trình khắc phục những điểm nghẽn về tổ chức thực hiện, nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư, cơ quan quản lý và chính quyền địa phương, bảo đảm mỗi nguồn lực được huy động đều có khả năng tạo ra kết quả phát triển cụ thể.

Nếu đất đai là nguồn lực, hạ tầng tạo không gian và cải cách thủ tục giúp các dự án vận hành, thì khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chính là những yếu tố có khả năng nâng cao chất lượng tăng trưởng trong dài hạn.
Bởi lẽ, một cực tăng trưởng mới không thể được hình thành chỉ bằng những khu đô thị, tuyến giao thông hay công trình xây dựng. Điều quan trọng hơn là những hoạt động kinh tế nào sẽ xuất hiện trong các không gian đó, khả năng tạo việc làm, giá trị gia tăng và mức độ tham gia vào các chuỗi sản xuất, cung ứng có hàm lượng công nghệ cao.
Đây cũng là lý do Hà Nội đặt phát triển hạ tầng chiến lược trong mối liên hệ với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và thu hút đầu tư chất lượng cao.
Theo báo cáo tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Đảng bộ TP. Hà Nội, trong 9 tháng năm 2026, Hà Nội đã đạt nhiều kết quả trong hoàn thiện thể chế và xây dựng nền tảng cho các động lực tăng trưởng mới.
HĐND TP. Hà Nội ban hành 10 nghị quyết về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; cho phép hai dự án thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực phương tiện tự hành và chế biến đất hiếm.
Thành phố cũng đã phê duyệt danh mục công nghệ chiến lược ưu tiên giai đoạn 2026-2035, gồm 9 nhóm và 25 sản phẩm; tiếp nhận khoảng 160 đề xuất đặt hàng, xét tài trợ nhiệm vụ tính đến tháng 9/2026. Giá trị tăng thêm của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số ước chiếm 22,85% GRDP; kinh tế số chiếm 16,7% GRDP.
Đây là những chỉ dấu về quá trình từng bước hình thành nền tảng kinh tế dựa trên tri thức và công nghệ. Tuy nhiên, để các chỉ dấu ấy trở thành động lực tăng trưởng bền vững, yêu cầu đặt ra là phải chuyển từ xây dựng cơ chế, hạ tầng và hệ sinh thái sang tạo ra sản phẩm, dịch vụ, doanh nghiệp và năng lực sản xuất mới.
Một tín hiệu đáng chú ý khác đến từ dòng vốn đầu tư nước ngoài. Theo báo cáo của Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu, 9 tháng năm 2026, Hà Nội thu hút khoảng 4,13 tỷ USD vốn FDI, trong đó lĩnh vực hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt khoảng 2,24 tỷ USD, chiếm hơn một nửa tổng vốn.
Cơ cấu này cho thấy sức hút của những lĩnh vực có hàm lượng tri thức và công nghệ đang gia tăng. Dù vậy, TP. Hà Nội cũng nhìn nhận vốn FDI thu hút được trong 9 tháng chủ yếu là góp vốn, mua cổ phần, chưa chuyển hóa tương xứng thành năng lực sản xuất mới.
Điều đó đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng thu hút và sử dụng vốn đầu tư, gắn các dự án với nhu cầu phát triển ngành, nguồn nhân lực, hạ tầng và khả năng chuyển giao công nghệ.
Trong định hướng này, Khu Công nghệ cao Hòa Lạc giữ vị trí đáng chú ý. Bí thư Thành ủy Trần Đức Thắng yêu cầu tổ chức quản lý, vận hành và khai thác tối đa tiềm lực của Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, phát huy vai trò trung tâm thử nghiệm cơ chế, chính sách về khoa học và công nghệ của Thủ đô.
Cùng với đó, Hà Nội tập trung đẩy nhanh tiến độ Khu Công nghệ cao sinh học Hà Nội, Khu Công viên công nghệ phần mềm Hà Nội và các dự án khác theo quy hoạch; hình thành một số trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm và hạ tầng phục vụ những lĩnh vực công nghệ chiến lược.
Đây là những cấu phần quan trọng để phát triển các không gian kinh tế có hàm lượng công nghệ cao, kết nối hoạt động nghiên cứu với doanh nghiệp, thị trường và các nguồn vốn đầu tư.
Trong chiến lược phát triển những cực tăng trưởng mới, việc bố trí đất cho nghiên cứu, sản xuất và đổi mới sáng tạo cần được xem xét đồng thời với hạ tầng giao thông, năng lượng xanh, hạ tầng số và đào tạo nhân lực.
Một khu vực có khả năng kết nối thuận lợi nhưng thiếu doanh nghiệp, nguồn nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo sẽ khó phát huy hết giá trị của hạ tầng được đầu tư. Ngược lại, khi các điều kiện về không gian, công nghệ, vốn và thị trường được tổ chức đồng bộ, khả năng hình thành những trung tâm kinh tế có sức lan tỏa sẽ rõ nét hơn.
Tuy nhiên, quá trình này vẫn đối mặt với những hạn chế cần khắc phục. Theo đánh giá tại hội nghị, khoa học công nghệ và chuyển đổi số chưa tạo ra đóng góp trực tiếp rõ nét tương xứng với tiềm năng. Một số nhiệm vụ triển khai chậm, khả năng khai thác dữ liệu còn hạn chế, trong khi vốn đầu tư tư nhân và FDI thực hiện chưa tương xứng với nguồn lực huy động.
Bí thư Thành ủy Trần Đức Thắng yêu cầu triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW bằng những sản phẩm được sử dụng và hiệu quả có thể kiểm chứng; tập trung phát triển hạ tầng công nghệ chiến lược, thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và nâng cao hiệu quả khai thác dữ liệu.
Yêu cầu này có ý nghĩa quan trọng đối với định hướng phát triển dài hạn của Hà Nội. Bởi nếu các cực tăng trưởng mới chỉ dựa trên mở rộng đất đô thị và đầu tư xây dựng, khả năng tạo ra giá trị gia tăng có thể bị giới hạn. Ngược lại, khi khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành nền tảng của các hoạt động sản xuất, kinh doanh, giá trị kinh tế tạo ra trên cùng một đơn vị đất đai và hạ tầng có điều kiện được nâng cao.
Đó cũng là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, thu hút các ngành công nghiệp và dịch vụ có giá trị gia tăng cao, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của kinh tế Thủ đô.

Bước vào giai đoạn 2026-2030, Hà Nội có những điều kiện quan trọng để mở rộng không gian phát triển: nguồn lực đất đai lớn, hệ thống hạ tầng chiến lược đang được đẩy mạnh, các cơ chế đặc thù từng bước được cụ thể hóa và hệ sinh thái khoa học công nghệ tiếp tục hình thành.
Tuy nhiên, nguồn lực lớn chưa đồng nghĩa với hiệu quả phát triển cao. Khoảng 800.000 tỷ đồng dự kiến thu từ đất trong giai đoạn 2026-2030 chỉ có thể trở thành nguồn lực đầu tư thực tế khi các quỹ đất được khai thác đúng quy định, phù hợp quy hoạch và điều kiện thị trường. Hơn 230.000 tỷ đồng tổng mức đầu tư của 72 công trình trọng điểm chỉ phát huy đầy đủ hiệu quả khi các dự án được triển khai bảo đảm tiến độ, chất lượng và đưa vào khai thác.
Tương tự, việc tháo gỡ những dự án chậm triển khai phải được đo bằng khả năng đưa đất đai, vốn và tài sản trở lại hoạt động kinh tế. Những cơ chế phát triển khoa học công nghệ cũng cần được đánh giá bằng sản phẩm, hiệu quả ứng dụng và đóng góp thực chất vào tăng trưởng.
Trong kết luận Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Đảng bộ TP. Hà Nội, Bí thư Thành ủy Trần Đức Thắng nhấn mạnh yêu cầu chuyển hóa các nguồn lực thành động lực phát triển Thủ đô, đồng thời gắn nhiệm vụ trước mắt với đổi mới mô hình tăng trưởng.
Đối với kế hoạch năm 2027 và đầu tư trung hạn, TP. Hà Nội được yêu cầu hạch toán hiệu quả kinh tế, phân tích tác động dẫn dắt, khả năng liên kết vùng, chuỗi cung ứng và phối hợp bảo vệ môi trường; xác định rõ trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Đây là những yêu cầu có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả sử dụng nguồn lực trong những năm tới. Một cực tăng trưởng mới không thể được đánh giá đơn thuần bằng quy mô đất đai, số lượng dự án hay tổng vốn đăng ký đầu tư. Giá trị của nó phải được thể hiện qua khả năng thu hút hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, tăng năng suất, mở rộng thị trường và đóng góp bền vững cho ngân sách.
Vì vậy, thước đo thành công của Hà Nội trong giai đoạn tới không chỉ là huy động được bao nhiêu nguồn lực, mà còn là khả năng sử dụng hiệu quả những nguồn lực ấy để tạo ra năng lực phát triển mới.
Đất đai cần được chuyển hóa thành hạ tầng và hoạt động kinh tế. Hạ tầng phải mở ra không gian phát triển, tạo điều kiện thu hút đầu tư. Những dự án tồn đọng cần được xử lý để nguồn lực quay trở lại nền kinh tế. Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phải góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng.
Khi các yếu tố này được kết nối đồng bộ, cấu trúc 9 cực, 9 trục, 9 động lực của Thủ đô sẽ có thêm điều kiện để từng bước hiện thực hóa.
Khơi thông nguồn lực, xét đến cùng, không dừng ở việc giải quyết những điểm nghẽn hiện tại. Đó còn là quá trình kiến tạo năng lực phát triển cho tương lai, để mỗi công trình hạ tầng, mỗi quỹ đất được khai thác và mỗi dự án được đưa vào hoạt động đều góp phần mở rộng bản đồ tăng trưởng của Hà Nội.