Triển khai Nghị quyết 68, Hà Nội đang kết nối các chính sách về mặt bằng, vốn, công nghệ, nhân lực và thị trường, hướng tới giảm chi phí kinh doanh, nâng năng lực doanh nghiệp và chuyển nguồn lực đầu tư thành động lực tăng trưởng thực chất.

 

Có những công việc trước đây mất hằng tháng, nay được giải quyết trong chưa đầy một tuần, đó chính là ý nghĩa cụ thể của cải cách thủ tục hành chính của chính quyền TP. Hà Nội đối với doanh nghiệp: tiết kiệm thời gian, chi phí và nhân lực để tập trung cho sản xuất, kinh doanh.

 

Với mỗi doanh nghiệp, thời gian hoàn tất một thủ tục gắn với tiến độ đầu tư, cơ hội thị trường và khả năng thực hiện kế hoạch kinh doanh. Bởi vậy, những chuyển biến trong cách giải quyết công việc giữa chính quyền và doanh nghiệp là một phần quan trọng trong quá trình Hà Nội triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

 

Từ cải cách thủ tục, Hà Nội đang mở rộng các điều kiện hỗ trợ về mặt bằng, vốn, công nghệ, nhân lực và thị trường. Yêu cầu xuyên suốt là giúp doanh nghiệp tiếp cận được chính sách, tháo gỡ được vướng mắc và sử dụng hiệu quả nguồn lực cho phát triển.

 

 

Kinh tế Hà Nội đang đứng trước yêu cầu vừa tăng tốc, vừa nâng cao chất lượng tăng trưởng. Theo ông Nguyễn Xuân Lưu, Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội, GRDP quý III/2026 tăng 10,02%, đưa mức tăng trưởng 9 tháng lên 8,85%, cao hơn mức 7,92% của cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, vốn đầu tư tư nhân và vốn FDI thực hiện chưa tương xứng với nguồn lực đã huy động; một số lĩnh vực chưa đạt mục tiêu theo kịch bản.

 

Thực tế ấy đặt ra yêu cầu chuyển nguồn lực huy động thành năng lực sản xuất, kinh doanh. Vốn cần đi vào dự án, máy móc và công nghệ; mặt bằng phải đáp ứng điều kiện triển khai đầu tư; các thỏa thuận hợp tác cần được cụ thể hóa bằng tiến độ và sản phẩm. Khơi thông những khâu này sẽ tạo thêm điều kiện để doanh nghiệp mở rộng hoạt động, đóng góp vào tăng trưởng, tạo việc làm và phát triển nguồn thu ngân sách bền vững.

 

Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội, cho rằng điều cộng đồng doanh nghiệp mong đợi nhất hiện nay là các chính sách hỗ trợ thực chất về dòng tiền, tín dụng, giảm chi phí tuân thủ và cải cách thủ tục hành chính. Chính sách cần giúp doanh nghiệp đứng vững, tái cơ cấu và phát triển bền vững trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.

 

Những nhu cầu đó cũng là trọng tâm hỗ trợ của Nghị quyết số 48/2026/NQ-HĐND của HĐND TP. Hà Nội về hỗ trợ doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, cụ thể hóa cơ chế tại điểm d, khoản 8, Điều 26 Luật Thủ đô năm 2026.

 

Theo nghị quyết, doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp văn hóa, thể thao, du lịch; giáo dục và đào tạo; y tế; logistics; nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đáp ứng các điều kiện, tiêu chí về đóng góp thuế, phí, tạo việc làm và thực hiện trách nhiệm xã hội theo quy định, được ngân sách hỗ trợ về mặt bằng sản xuất, kinh doanh, vay vốn và phát triển thị trường quốc tế.

 

Đây là những lĩnh vực được UBND TP. Hà Nội xác định cần đẩy mạnh phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số và phát triển bền vững của Hà Nội.

 

Về mặt bằng sản xuất, kinh doanh, nghị quyết quy định hỗ trợ giảm tiền thuê, thuê lại đất đã đầu tư hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vườn ươm công nghệ đối với doanh nghiệp thuộc diện được hỗ trợ theo quy định. Đối tượng, điều kiện, tiêu chí và nội dung hỗ trợ được quy định công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong quá trình thực hiện.

 

Trong một quyết định đầu tư, mặt bằng, vốn và thị trường là những điều kiện gắn bó chặt chẽ. Mặt bằng phù hợp tạo cơ sở bố trí nhà xưởng, thiết bị; nguồn vốn giúp triển khai kế hoạch đầu tư; thị trường mở rộng tạo thêm khả năng tiêu thụ sản phẩm và duy trì dòng tiền. Kết nối các công cụ hỗ trợ vì thế có ý nghĩa đối với toàn bộ quá trình phát triển của doanh nghiệp, từ chuẩn bị đầu tư đến tổ chức sản xuất và tìm kiếm đầu ra.

 

 

Ông Nguyễn Văn Phụng, nguyên Cục trưởng Cục Thuế doanh nghiệp lớn, Tổng cục Thuế, nhận định chính sách sẽ góp phần tháo gỡ khó khăn để doanh nghiệp phát triển, qua đó tạo động lực tăng trưởng và gia tăng nguồn thu ngân sách bền vững cho thành phố.

 

Cùng với các chính sách hỗ trợ trực tiếp, Hà Nội đặt nhiệm vụ khơi thông vốn đầu tư tư nhân trong tổng thể phát triển hạ tầng và mở rộng không gian kinh tế. Theo ông Nguyễn Xuân Lưu, TP. Hà Nội tiếp tục thúc đẩy các dự án ngoài ngân sách, tập trung tháo gỡ vướng mắc về quy hoạch, đất đai, đầu tư, xây dựng đối với những dự án có khả năng triển khai ngay. Các thỏa thuận hợp tác phải được chuyển hóa thành vốn thực hiện, tiến độ cụ thể và sản phẩm thực tế.

 

Trong tiến trình này, đầu tư công giữ vai trò thúc đẩy các ngành kinh tế liên quan, tăng năng lực kết nối và nâng sức cạnh tranh của Thủ đô. Hà Nội đang triển khai 72 dự án trọng điểm, cấp bách với tổng mức đầu tư khoảng 230,4 nghìn tỷ đồng, gồm các tuyến đường vành đai, cầu qua sông Hồng, đường sắt đô thị, công trình chống ngập và dự án nhà ở xã hội.

 

Hạ tầng được đầu tư đồng bộ sẽ tạo thêm điều kiện kết nối sản xuất, lưu thông hàng hóa và tiếp cận thị trường. Để những điều kiện ấy trở thành cơ hội đầu tư cụ thể, các vướng mắc về đất đai, quy hoạch, giải phóng mặt bằng và thủ tục đầu tư cần được xử lý kịp thời, đồng bộ.

 

Quan điểm của thành phố là khai thác nguồn lực đất đai phải gắn với sử dụng hiệu quả, bố trí quỹ đất phù hợp cho sản xuất, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Theo đó, giá trị của đất đai cần được phát huy từ nguồn thu trước mắt đến khả năng hình thành năng lực sản xuất, thu hút đầu tư và tạo nền tảng phát triển dài hạn cho Thủ đô.

 

 

Để chính sách hỗ trợ đi vào thực tiễn, doanh nghiệp cần biết mình thuộc đối tượng nào, phải đáp ứng những điều kiện gì và bắt đầu từ đâu. Hướng dẫn rõ ràng, phù hợp với từng trường hợp là bước cần thiết để chuyển ưu đãi trên văn bản thành nguồn lực phục vụ sản xuất, kinh doanh.

 

Đây cũng là vấn đề được ông Cù Ngọc Trang, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, đặt ra trong quá trình triển khai các cơ chế mới. Theo ông, Hà Nội đã hình thành hệ thống cơ chế, chính sách, đặc biệt sau Nghị quyết số 57-NQ/TW và việc HĐND TP. Hà Nội ban hành các nghị quyết thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thách thức lớn hơn là biến những cơ chế ấy thành năng lực, tăng trưởng và cơ hội cụ thể cho doanh nghiệp.

 

Theo ông Cù Ngọc Trang, trách nhiệm của cơ quan quản lý cần được thể hiện bằng việc giúp doanh nghiệp xác định rõ trường hợp áp dụng, hồ sơ cần chuẩn bị, nơi tiếp nhận và thời hạn trả kết quả. Một câu trả lời chỉ dẫn lại quy định chưa đủ giúp doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng chính sách.

 

Tại Hội nghị xử lý điểm nghẽn của doanh nghiệp khoa học và công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo và công nghệ số mới đây, ông Trương Việt Dũng, Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội, yêu cầu Sở Khoa học và Công nghệ thiết kế các “luồng chính sách” theo vòng đời của doanh nghiệp và công nghệ.

 

Mỗi luồng phải giúp doanh nghiệp biết mình đang ở giai đoạn nào, có thể sử dụng công cụ hỗ trợ gì, ai hướng dẫn, cần chuẩn bị hồ sơ ra sao, bao lâu có kết quả và sản phẩm cuối cùng cần tạo ra là gì. Thành phố hướng tới một quy trình có đầu mối dẫn đường, theo dõi xuyên suốt, giúp doanh nghiệp tiếp cận các chính sách theo trình tự phù hợp với nhu cầu phát triển.

 

Các “luồng chính sách” cần làm rõ bao gồm nhiệm vụ khoa học và công nghệ; đổi mới công nghệ, nghiên cứu phát triển và hạ tầng dùng chung; khởi nghiệp sáng tạo; thử nghiệm có kiểm soát; thương mại hóa và giao dịch công nghệ; tiếp cận vốn và đầu tư.

 

Cách tiếp cận này xuất phát từ nhu cầu khác nhau ở từng giai đoạn phát triển sản phẩm. Khi nghiên cứu, doanh nghiệp cần nhân lực, hạ tầng và kinh phí; đến khâu thử nghiệm, yêu cầu đặt ra là điều kiện kiểm chứng, đánh giá khả năng ứng dụng. Khi sản phẩm hoàn thiện, doanh nghiệp tiếp tục cần khách hàng và thị trường. Kết nối các công cụ hỗ trợ sẽ tạo thêm cơ sở để doanh nghiệp lựa chọn bước đi, chuẩn bị nguồn lực và triển khai kế hoạch phù hợp.

 

 

Trong chuỗi hỗ trợ ấy, Nghị quyết số 25/2026/NQ-HĐND của HĐND TP. Hà Nội quy định các chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển hạ tầng và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

 

Đối với phòng thí nghiệm thuộc cơ sở giáo dục đại học tư thục, tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập, doanh nghiệp tư nhân, nghị quyết quy định mức hỗ trợ tối đa 30% chi phí đầu tư mới hoặc nâng cấp; phòng thí nghiệm được đầu tư mới được hỗ trợ tối đa 30% chi phí vận hành trong 3 năm đầu. Chính sách này góp phần giảm chi phí xây dựng năng lực nghiên cứu, thử nghiệm cho khu vực ngoài công lập.

 

Ở khâu tiếp cận thị trường, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ số, doanh nghiệp có sản phẩm khoa học và công nghệ đáp ứng quy định được hỗ trợ 100% chi phí gian hàng khi tham gia triển lãm, hội chợ, sự kiện công nghệ quốc tế theo chương trình xúc tiến của Thành phố.

 

Cùng với đó, thành phố hỗ trợ thực hiện thủ tục hành chính, pháp lý để công nhận hoặc cấp giấy chứng nhận đối với các đối tượng thuộc diện hỗ trợ; kết nối doanh nghiệp với chuyên gia, nhà khoa học, nhà đầu tư, tổ chức tài chính, quỹ đầu tư, viện nghiên cứu và trường đại học. Những công cụ này tạo thêm điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận tri thức, nguồn vốn và đối tác trong quá trình phát triển sản phẩm.

 

Nhu cầu kết nối chính sách được thể hiện qua 124 kiến nghị mà Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội đã tiếp nhận. Các kiến nghị tập trung vào vốn cho đổi mới công nghệ, thị trường và “khách hàng đầu tiên”, môi trường thử nghiệm, hạ tầng nghiên cứu, tài sản trí tuệ, dữ liệu, nhân lực và liên kết viện, trường.

 

Từ thực tiễn đầu tư nghiên cứu, ông Đào Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Tập đoàn Ô tô Hiệp Hòa, đề xuất TP. Hà Nội xây dựng quy định cụ thể về cơ chế bao tiêu, mua sản phẩm khi doanh nghiệp nghiên cứu thành công các sản phẩm đổi mới sáng tạo đáp ứng nhu cầu thị trường.

 

Theo phương án “đặt mua hàng trước” mà ông Hùng đề xuất, doanh nghiệp tự bỏ vốn, chịu rủi ro trong quá trình nghiên cứu; khi sản phẩm thành công, thành phố và Trung ương ưu tiên mua sắm theo nhu cầu. Kiến nghị này gợi mở hướng kết nối nhu cầu sử dụng sản phẩm trong khu vực công với năng lực nghiên cứu, sản xuất của doanh nghiệp trong nước.

 

 

Ở góc độ quản trị, ông Nguyễn Văn Quỳnh, Trưởng phòng Kinh doanh và Truyền thông, Công ty TNHH MTV Thương mại VI RE SIN, cho biết bên cạnh đầu tư công nghệ sản xuất và kiểm soát chất lượng, doanh nghiệp đang tập trung chuyển đổi số, chuẩn hóa dữ liệu và từng bước ứng dụng AI trong quản trị.

 

“Định hướng hỗ trợ của Thành phố ngày càng rõ hơn và bám sát những nhu cầu thực tế của doanh nghiệp”, ông Quỳnh chia sẻ.

 

Quá trình đổi mới cũng đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực đội ngũ quản lý. Theo thông tin về chương trình đào tạo chuyên sâu ngắn hạn ở nước ngoài được tổ chức trong khuôn khổ Đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026-2030, mức hỗ trợ là 70% kinh phí, tối đa 100 triệu đồng mỗi doanh nghiệp thuộc diện tham gia theo quy định.

 

Từ hạ tầng nghiên cứu đến năng lực quản trị và khả năng tiếp cận thị trường, các chính sách đang từng bước bổ sung điều kiện phát triển cho doanh nghiệp. Để nguồn lực hỗ trợ phát huy tác dụng, cơ quan quản lý cần tổ chức thực hiện thông suốt, hướng dẫn cụ thể và theo dõi kết quả; doanh nghiệp cần chủ động xác định nhu cầu, chuẩn bị hồ sơ và sử dụng hiệu quả nguồn lực được tiếp cận. Khi hai phía cùng thực hiện đầy đủ trách nhiệm, chính sách mới có cơ sở chuyển thành năng lực cạnh tranh và cơ hội tăng trưởng.

 

 

Hiệu quả của chính sách phát triển kinh tế tư nhân được kiểm chứng qua cách giải quyết công việc hằng ngày tại các sở, ngành và chính quyền cơ sở. Từ giấy phép xây dựng, thuế, phòng cháy, chữa cháy đến hồ sơ trực tuyến, mỗi vướng mắc đều có thể ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư, sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp.

 

Tại phường Vĩnh Tuy, các cuộc gặp mặt, đối thoại tạo điều kiện để doanh nghiệp, hộ kinh doanh phản ánh khó khăn, được lãnh đạo địa phương và cơ quan chuyên môn trao đổi, hướng dẫn. Những nội dung vượt thẩm quyền được ghi nhận, tổng hợp để kiến nghị cấp trên xem xét, giải quyết và thông tin lại cho doanh nghiệp.

 

 

Phường đồng thời phối hợp với cơ quan thuế, bảo hiểm xã hội, ngân hàng và công an hướng dẫn các chính sách về thuế, hóa đơn điện tử, nghĩa vụ tài chính, bảo hiểm xã hội, tín dụng ưu đãi và phòng cháy, chữa cháy. Việc phối hợp giúp doanh nghiệp tiếp cận hướng dẫn từ các cơ quan liên quan, làm rõ những yêu cầu cần thực hiện trong quá trình hoạt động.

 

Ông Vũ Văn Hoạt, Chủ tịch UBND phường Vĩnh Tuy, khẳng định địa phương tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, minh bạch thủ tục hành chính với tinh thần “Chính quyền đồng hành - Doanh nghiệp phát triển”, tạo điều kiện để doanh nghiệp, hộ kinh doanh yên tâm đầu tư, mở rộng sản xuất.

 

Tại phường Định Công, đối thoại với doanh nghiệp đã làm rõ những vướng mắc về cấp giấy phép xây dựng, an toàn thực phẩm, phòng cháy, chữa cháy đối với nhà ở kết hợp kinh doanh và sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Từ thực tế hoàn thiện hồ sơ, doanh nghiệp đề xuất xây dựng hướng dẫn bằng video hoặc chatbot, giúp hạn chế sai sót và rút ngắn thời gian xử lý.

 

Tiếp nhận các phản ánh, lãnh đạo phường yêu cầu các đơn vị chuyên môn thường xuyên rà soát, đơn giản hóa quy trình giải quyết thủ tục hành chính và đẩy mạnh các giải pháp chuyển đổi số cộng đồng.

 

Ở phường Khương Đình, những hạn chế được nhận diện là phần mềm đôi khi còn chậm, xảy ra lỗi kết nối và diện tích điểm phục vụ chưa đáp ứng tốt nhu cầu vào giờ cao điểm. Địa phương lên kế hoạch bổ sung trang thiết bị, chỉnh trang cơ sở vật chất, tăng cường hướng dẫn nộp hồ sơ trực tuyến và triển khai đặt lịch hẹn để giảm áp lực giao dịch trực tiếp.

 

Trong khi đó, phường Kim Liên công khai 461 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết, gồm 279 thủ tục riêng của cấp xã và 182 thủ tục dùng chung. Thông tin về quy trình, hướng dẫn phản ánh, kiến nghị được công khai tại điểm phục vụ hành chính công và trên cổng thông tin điện tử của phường, tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp tiếp cận và giám sát.

 

Thực tiễn tại cơ sở cho thấy, hỗ trợ doanh nghiệp cần được cụ thể hóa trong từng khâu tiếp nhận, hướng dẫn, xử lý và trả kết quả. Công khai thủ tục tạo thuận lợi cho việc tiếp cận thông tin; hướng dẫn rõ ràng giúp doanh nghiệp chuẩn bị hồ sơ; phối hợp liên thông hỗ trợ giải quyết những vấn đề liên quan đến nhiều cơ quan. Chất lượng phục vụ được hình thành từ sự thông suốt của cả quá trình ấy.

 

Ở cấp thành phố, chỉ đạo về cải thiện niềm tin kinh doanh và triển khai Nghị quyết 68 đã xác định kết quả giải quyết công việc, mức giảm thời gian, chi phí tuân thủ và hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp là căn cứ đánh giá thực hiện nhiệm vụ.

 

 

Đối với nhiệm vụ chậm tiến độ, các sở, ngành, địa phương phải làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm, phần việc còn lại, sản phẩm và thời gian hoàn thành. Việc xử lý kiến nghị của doanh nghiệp phải có đầu mối, thời hạn và thông tin kết quả; những nội dung vượt thẩm quyền cần được tổng hợp cùng đề xuất phương án giải quyết.

 

Yêu cầu báo cáo cũng được cụ thể hóa: hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp phải thể hiện số đối tượng thụ hưởng, kinh phí và hiệu quả; kết quả xử lý kiến nghị phải phân biệt rõ số đã tiếp nhận, đã giải quyết, còn tồn đọng và vượt thẩm quyền. Đây là cơ sở để theo dõi tiến độ, đánh giá chất lượng thực thi và xác định những khâu cần tiếp tục tháo gỡ.

 

“Sự thành công của doanh nghiệp cũng chính là sự thành công của Thành phố”, ông Nguyễn Xuân Lưu khẳng định.

 

“Đường băng” cho kinh tế tư nhân được tạo dựng từ khả năng tiếp cận nguồn lực và chất lượng giải quyết từng công việc. Hiệu quả triển khai Nghị quyết 68 cần được kiểm chứng bằng những vướng mắc được tháo gỡ, dự án được triển khai và năng lực sản xuất mới được hình thành. Đó là cơ sở để các chính sách hỗ trợ chuyển thành sức cạnh tranh của doanh nghiệp và động lực tăng trưởng của Thủ đô.

 

 

Bình luận bài viết này
Hồ Hạ 02/11/2026 10:24