Từ những cánh đồng điện gió, điện mặt trời đến dự án điện LNG Cà Ná, cảng biển và hạ tầng công nghiệp năng lượng, Trungnam đang theo đuổi một câu hỏi lớn: doanh nghiệp tư nhân Việt Nam có thể gánh những công trình nền tảng của đất nước đến đâu.
Khi thế giới nói nhiều về trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, trung tâm dữ liệu hay công nghệ không gian, người ta thường bị cuốn vào những khái niệm rất thời thượng. Nhưng phía sau mọi cuộc đua hào nhoáng ấy lại là một cuộc đua nền tảng hơn, âm thầm hơn và cũng quyết liệt không kém: cuộc đua năng lượng.
Không có điện, sẽ không có nhà máy bán dẫn. Không có điện, trung tâm dữ liệu chỉ là những khối bê tông lạnh. Không có điện ổn định, những tham vọng tăng trưởng cao sẽ rất dễ mắc kẹt ở những bản quy hoạch đẹp.
Với Việt Nam, yêu cầu ấy càng rõ hơn khi nền kinh tế đang bước vào một chu kỳ phát triển mới. Mục tiêu tăng trưởng cao không còn là khẩu hiệu để truyền cảm hứng, mà đang trở thành áp lực rất thật lên hạ tầng, lên dòng vốn, lên hệ thống điện và lên khả năng tổ chức phát triển của cả nền kinh tế.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đã đặt ra một không gian phát triển mới. Một bên khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Một bên nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ thống năng lượng hiện đại, bền vững, bảo đảm an ninh năng lượng cho giai đoạn tăng trưởng mới.
Hai dòng chảy chính sách ấy gặp nhau ở một điểm: Việt Nam cần những doanh nghiệp tư nhân đủ lớn, đủ bền bỉ và đủ khát vọng để đi vào những lĩnh vực khó, vốn lớn, thời gian hoàn vốn dài, nhưng có ý nghĩa nền tảng với tương lai đất nước.
Trungnam là một minh chứng như thế.
Vùng Thuận Nam, Thuận Bắc, Phước Dinh, Cà Ná nhiều năm trước thường được nhớ đến bởi nắng gió, khô hạn và sự khắc nghiệt. Từ góc độ nông nghiệp, đây không phải vùng đất được thiên nhiên ưu ái. Nhưng khi thế giới chuyển sang năng lượng tái tạo, nắng và gió lại trở thành tài nguyên chiến lược.
Trong cuộc đua ấy, Trungnam nổi lên như một doanh nghiệp tư nhân biết biến lợi thế xây dựng, năng lực tổ chức thi công và tinh thần “đã làm là phải tới nơi” thành tốc độ triển khai dự án.
Câu chuyện thần tốc thi công Trạm biến áp 500 kV và đường dây 220/500 kV kết hợp Nhà máy điện mặt trời Trung Nam Thuận Nam 450 MW trong 102 ngày, với hơn 8.000 cán bộ, kỹ sư, công nhân làm việc xuyên ngày đêm trên diện tích hàng trăm héc-ta, từng là một dấu ấn đáng nhớ của ngành năng lượng Việt Nam.

Sau đó là các dự án điện gió được triển khai trong giai đoạn dịch Covid-19 căng thẳng, khi việc huy động nhân lực, vận chuyển thiết bị, thuê phương tiện siêu trường siêu trọng đều khó hơn bình thường.
Nhưng những tua-bin vẫn được dựng lên, những cánh đồng gió vẫn hoàn thành đúng tiến độ. Đây cũng là một minh chứng rõ nhất về việc doanh nghiệp tư nhân Việt Nam không chỉ biết chớp thời cơ, mà cũng có thể chịu áp lực rất lớn khi bước vào các công trình phức tạp.

Ông Nguyễn Tâm Tiến trên công trường Dự án Nhà máy điện mặt trời Trung Nam Thuận Nam kết hợp Trạm biến áp, đường dây 33/220/500kV Thuận Nam.
Điểm đáng chú ý ở Trungnam không chỉ là số lượng dự án hay quy mô vốn đầu tư. Điều đáng nói hơn là cách doanh nghiệp này tiếp cận ngành năng lượng như một hệ sinh thái, chứ không phải một cuộc săn tìm dự án đơn lẻ.

Họ làm điện mặt trời, điện gió, rồi làm cả đường dây truyền tải. Họ phát triển nguồn điện, nhưng cũng nhìn thấy rất sớm nút thắt hạ tầng. Họ không chỉ hỏi “làm được bao nhiêu MW”, mà còn hỏi dòng điện ấy đi đâu, đấu nối thế nào, phục vụ cho năng lực tăng trưởng nào của quốc gia.
Đó là bước chuyển rất quan trọng. Bởi trong năng lượng, một nhà máy điện riêng lẻ có thể tạo ra sản lượng. Nhưng một hệ sinh thái năng lượng mới tạo ra năng lực phát triển.
Nếu chỉ nhìn Trungnam qua những cánh đồng điện mặt trời và điện gió, có lẽ vẫn chưa đủ. Năng lượng tái tạo là điểm khởi đầu quan trọng, nhưng không thể là toàn bộ lời giải cho một hệ thống điện hiện đại. Mặt trời không phải lúc nào cũng tỏa sáng. Gió không phải lúc nào cũng thổi. Trong khi đó, nhu cầu điện của nền kinh tế thì không có khái niệm nghỉ ngơi.
Vì thế, một hệ thống năng lượng bền vững cần sự cân bằng giữa các nguồn điện, cần hạ tầng truyền tải, cần cảng biển, cần logistics, cần khu công nghiệp, cần những dự án nền đủ lớn để bảo đảm an ninh năng lượng trong dài hạn.
Đó là lý do Dự án điện khí LNG Cà Ná trở thành mảnh ghép lớn trong chiến lược của Trungnam.
Với công suất 1.500 MW, tổng vốn đầu tư hơn 57.000 tỷ đồng, dự kiến cung cấp khoảng 9 tỷ kWh điện mỗi năm, cùng hệ thống kho cảng LNG công suất 1-1,2 triệu tấn/năm, bồn chứa, tái hóa khí, bến cảng nhập LNG, đê chắn sóng dài 2.400 mét và hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, Dự án điện LNG Cà Ná không chỉ là một nhà máy điện mà mang dáng dấp của một tổ hợp hạ tầng năng lượng.
Và nếu nhìn rộng hơn, đó là bước đi nhằm biến Cà Ná từ một vùng đất khô hạn thành một cực tăng trưởng công nghiệp năng lượng của Nam Trung Bộ.
Điều thú vị là Cà Ná gần như hội đủ những điều kiện mà một trung tâm năng lượng cần có. Có nắng để phát triển điện mặt trời. Có gió để phát triển điện gió. Có vị trí ven biển để tiếp nhận LNG nhập khẩu.
Có nền địa chất và không gian để phát triển cảng biển, logistics, khu công nghiệp. Và quan trọng nhất, có một doanh nghiệp nội địa đã đi trước nhiều năm trong việc chuẩn bị hạ tầng.
Dù Khu công nghiệp Cà Ná do Trungnam triển khai đã nhận quyết định chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư giai đoạn 1 vào tháng 6/2025 nhưng ý tưởng về một trung tâm năng lượng tại đây đã được bàn tới từ rất lâu, ngay khi Trungnam ra vùng này làm năng lượng tái tạo vào những năm 2018.
Hiện Cảng quốc tế Trung Nam Cà Ná với tổng mức đầu tư 5.600 tỷ đồng cũng đang được triển khai giai đoạn 2 với cảng 1B, hướng tới tiếp nhận hàng tổng hợp, hàng container, hàng rời trọng tải lớn, kể cả những cấu kiện siêu trường siêu trọng phục vụ các dự án năng lượng.
Tính đến tháng 4/2026, hơn 3,4 triệu tấn hàng hóa đã được thông quan qua cảng. Những chuyến tàu cập cảng Cà Ná không chỉ mang theo xi măng, đá granite, vật liệu xây dựng hay hàng công nghiệp mà còn mang theo thông điệp rõ ràng, đó là hạ tầng phải đi trước thì công nghiệp mới có đường để đến.
Đây cũng là điểm khác biệt trong cách Trungnam nhìn dự án điện LNG Cà Ná. Nếu nhiều nhà đầu tư có thể tiếp cận dự án từ góc độ xây một nhà máy điện thì Trungnam lại tiếp cận từ góc độ một trung tâm năng lượng, nơi nhà máy điện, cảng biển, kho LNG, khu công nghiệp, logistics và các dự án năng lượng mới có thể liên kết với nhau một cách hoàn chỉnh.
Vào tháng 4/2026, liên danh Trungnam - Sideros River đã ký hợp đồng đầu tư dự án Nhà máy nhiệt điện LNG Cà Ná với UBND tỉnh Khánh Hòa, đánh dấu một cột mốc quan trọng sau nhiều năm chuẩn bị. Mục tiêu được đặt ra là hoàn thành và đưa dự án vào vận hành trước cuối năm 2030.

Nếu về đích đúng tiến độ, Cà Ná sẽ không chỉ bổ sung một nguồn điện lớn cho hệ thống điện quốc gia mà còn mở ra chuỗi giá trị mới: từ nhập khẩu LNG, tái hóa khí, phát điện, logistics năng lượng, dịch vụ công nghiệp, đến khả năng đón các dự án điện gió ngoài khơi, hydrogen, trung tâm dữ liệu hoặc các ngành công nghiệp cần nguồn điện ổn định trong tương lai.
Không phải chỉ là thêm một dự án vào danh mục đầu tư. Mà là tạo ra một nền hạ tầng đủ lớn để những ngành công nghiệp tương lai có thể đặt chân đến.
Đó có lẽ mới là điều Trungnam theo đuổi phía sau Dự án điện LNG Cà Ná và các công trình hạ tầng đang được triển khai. Và Cà Ná - một vùng đất được nhớ đến bởi nắng, gió và mưa ít sẽ mang diện mạo khác khi là cửa ngõ LNG của khu vực miền Trung, điểm tựa năng lượng cho công nghiệp xanh cũng như là một mắt xích trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Nhìn từ bên ngoài, hành trình của Trungnam có thể được kể bằng những con số: hàng chục nghìn tỷ đồng đầu tư vào năng lượng tái tạo với 1,63 MW có điện gió, điện mặt trời hay tuyến đường dây 500 kV đầu tiên do tư nhân làm rồi cảng biển nước sâu, dự án điện LNG hơn 57.000 tỷ đồng…
Nhưng phía sau những con số ấy là một thực tế ít lãng mạn hơn nhiều bởi năng lượng là lĩnh vực không dành cho người thích thắng nhanh.
Một dự án năng lượng có vòng đời hàng chục năm. Vốn đầu tư lớn. Công nghệ phức tạp. Quy hoạch thay đổi là doanh nghiệp phải tính lại. Chính sách chậm một nhịp là dòng tiền có thể nghẽn vài năm. Thị trường năng lượng toàn cầu biến động là mọi bảng tính tài chính phải mở ra sửa lại.
Ở những lĩnh vực như vậy, doanh nghiệp không chỉ cần tiền mà còn phải có năng lực chịu đựng.
Ông Nguyễn Tâm Tiến, Tổng giám đốc Trungnam, từng nói về cảm giác “vừa chạy vừa dò đường” của doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực năng lượng. Câu nói ấy nghe nhẹ, nhưng rất thật. Bởi ở nhiều thời điểm, nhà đầu tư không chỉ triển khai dự án, mà còn phải tự học cách đi trong một hành lang chính sách chưa hoàn toàn ổn định.
Ông cũng từng chia sẻ điều doanh nghiệp cần không phải là ưu đãi đặc biệt, mà là một cơ chế minh bạch, để nhà đầu tư không phải mang tâm lý nơm nớp lo sợ.

Với ngành năng lượng, sự minh bạch không phải là một yêu cầu khó mà là điều kiện sống còn. Vì nếu một nút thắt pháp lý kéo dài, khi cơ chế giá chưa rõ, hợp đồng mua bán điện chưa đủ chắc để ngân hàng xuống tiền hay việc giải tỏa công suất chưa theo kịp với yêu cầu tiến độ đầu tư nhà máy, doanh nghiệp có thể trả giá bằng hàng nghìn tỷ đồng.
Trungnam cũng đang trải qua những cú sốc như vậy. Có những dự án điện tái tạo dù tua-bin vẫn quay, điện mặt trời vẫn phát lên lưới điện quốc gia, nhưng dòng tiền mà doanh nghiệp nhận về lại không đầy đủ như kỳ vọng.
Với doanh nghiệp, đó không chỉ là khó khăn tài chính. Đó là phép thử về sức bền, quản trị và niềm tin.
Cú sốc ấy buộc Trungnam phải soi lại chính mình. Doanh nghiệp bước vào quá trình tái cấu trúc để tinh gọn hơn, chặt chẽ hơn, thận trọng hơn và bền bỉ hơn.
Ông Tiến dùng từ “comeback” khá nhiều khi nói về giai đoạn mới của Trungnam. Một từ nghe giống bóng đá hơn ngành điện nhưng lại hợp.
“Comeback”- đó không phải là trở lại bằng những lời tuyên bố ồn ào. Thay vào đó là trả nợ những bài học cũ, củng cố nội lực, thu xếp lại nguồn vốn, làm lại quản trị, rồi tiếp tục bước vào những dự án khó hơn.
Điều đáng chú ý là sau những khó khăn ấy, Trungnam không rời bỏ năng lượng. Doanh nghiệp vẫn chọn đi tiếp với LNG, cảng biển, khu công nghiệp, logistics năng lượng, điện gió ngoài khơi và những cấu phần hạ tầng cho tương lai.
Đó là lựa chọn không dễ hiểu nếu chỉ nhìn bằng logic lợi nhuận ngắn hạn. Trên thị trường, luôn có những lĩnh vực quay vòng vốn nhanh hơn, ít rủi ro chính sách hơn, dễ tạo lợi nhuận hơn. Nhưng Trungnam lại chọn những lĩnh vực phải đổ vốn lớn, đi đường dài, chịu áp lực nhiều tầng.
Có lẽ vì họ nhìn thấy điều lớn hơn lợi nhuận của một dự án.
Trong một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh, điện và an ninh năng lượng không thể là phần phụ. Đó là xương sống. Một quốc gia muốn thu hút bán dẫn, trung tâm dữ liệu, công nghiệp công nghệ cao hay chuỗi cung ứng mới thì không thể chỉ nói về ưu đãi thuế, đất đai hay nhân lực. Nhà đầu tư lớn sẽ rất quan tâm: điện có đủ không, có ổn định không, nguồn cung có dài hạn không, hạ tầng logistics có theo kịp không.
Và vì thế, phát triển năng lượng cũng không còn là câu chuyện riêng của ngành điện mà là câu chuyện năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đây chính là tinh thần mà Nghị quyết 68 và Nghị quyết 70 cùng đặt ra theo hai cách khác nhau. Kinh tế tư nhân được kỳ vọng trở thành động lực quan trọng nhất của tăng trưởng. Năng lượng được xác định là nền tảng chiến lược để bảo đảm phát triển nhanh, bền vững và tự chủ.
Khi hai tinh thần ấy gặp nhau, vai trò của các doanh nghiệp tư nhân như Trungnam trở nên rõ hơn. Họ không chỉ là nhà đầu tư đi tìm dự án. Họ là lực lượng có thể tham gia giải những bài toán lớn của quốc gia, từ hạ tầng, năng lượng, logistics đến công nghiệp xanh.
Dĩ nhiên, để làm được điều đó, doanh nghiệp tư nhân không thể chỉ có khát vọng. Khát vọng nếu không đi cùng quản trị, tài chính, công nghệ và kỷ luật triển khai thì rất dễ thành khẩu hiệu. Nhưng ngược lại, nếu chỉ có tính toán tài chính mà thiếu khát vọng, sẽ khó có doanh nghiệp nào dám bước vào những lĩnh vực mà thời gian hoàn vốn dài hơn cả một chu kỳ lãnh đạo doanh nghiệp.
Trungnam đang đứng giữa hai yêu cầu đó: phải mơ đủ lớn, nhưng cũng phải quản trị đủ chặt.
Đây là thử thách thực sự của thế hệ doanh nghiệp tư nhân Việt Nam mới.
Lịch sử phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, những bước nhảy lớn thường cần những doanh nghiệp đủ lớn để đi cùng quốc gia.
Nhật Bản sau chiến tranh có những tập đoàn công nghiệp đặt nền móng cho quá trình hiện đại hóa. Hàn Quốc có các chaebol trở thành đầu tàu đưa nền kinh tế vươn ra thế giới. Các quốc gia công nghiệp mới đều có những doanh nghiệp nội địa đủ sức tích lũy công nghệ, vốn, quản trị và năng lực tổ chức sản xuất quy mô lớn.
Việt Nam hôm nay cũng đang đứng trước yêu cầu tương tự.
Muốn bước vào nhóm quốc gia có thu nhập cao, Việt Nam không thể chỉ dựa vào gia công, tiêu dùng hay những lợi thế lao động giá rẻ. Nền kinh tế phải có các doanh nghiệp đủ lớn trong những lĩnh vực nền tảng: năng lượng, hạ tầng, logistics, công nghiệp, công nghệ và dịch vụ giá trị cao.
Đó là lý do câu chuyện của Trungnam không chỉ là câu chuyện riêng của một tập đoàn.
Nó phản chiếu khát vọng của một lớp doanh nghiệp tư nhân Việt Nam muốn lớn lên cùng đất nước, thay vì chỉ lớn lên nhờ những cơ hội ngắn hạn.
Điều đáng nói nhất không phải là Trungnam làm thêm được bao nhiêu MW điện hay bao nhiêu hecta hạ tầng. kỳ vọng lớn hơn ấy chính là năng lực tổ chức một hệ sinh thái công nghiệp lớn của doanh nghiệp Việt Nam được nâng lên thêm một nấc. CEO của Trungnam cũng rất thẳng thắn chia sẻ: doanh nghiệp trong nước giàu lên thì tiền vẫn ở lại đất nước này.
Câu nói ấy không cầu kỳ, nhưng chạm vào một vấn đề căn bản của phát triển. Những công trình hạ tầng lớn nếu chỉ được nhìn như cơ hội kiếm lời thì rất hẹp. Nhưng nếu nhìn như quá trình tích lũy năng lực quốc gia, câu chuyện sẽ khác.

Một doanh nghiệp Việt Nam làm được cảng biển, làm được nhà máy điện, làm được hạ tầng logistics, biết thu xếp vốn quốc tế, biết hợp tác công nghệ, biết vận hành dự án hàng tỷ USD, thì năng lực ấy không chỉ nằm trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Nó trở thành một phần năng lực của nền kinh tế. Đó là điều mà Việt Nam rất cần trong giai đoạn tới.
Tất nhiên, con đường này sẽ không bằng phẳng. LNG chịu tác động của thị trường khí toàn cầu và địa chính trị. Điện gió ngoài khơi còn nhiều vấn đề về cơ chế giá, khảo sát, đấu nối, quy hoạch không gian biển. Hydrogen vẫn là câu chuyện dài hơi. Trung tâm dữ liệu đòi hỏi nguồn điện sạch, ổn định và hạ tầng số mạnh. Ngay cả một cảng biển muốn phát huy hết công suất cũng cần sự phát triển đồng bộ của công nghiệp phía sau.
Nhưng nếu vì khó mà không làm, Việt Nam sẽ tiếp tục đứng ngoài những chuỗi giá trị mới.
Cái khó của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam hôm nay không chỉ là thiếu vốn. Đôi khi cái khó lớn hơn là phải chứng minh rằng mình đủ năng lực để được tin tưởng giao những việc lớn. Và sau khi được giao, lại phải chứng minh tiếp rằng mình đủ bản lĩnh để đi đến cùng.
Trungnam đã có những bài học đắt giá trong năng lượng tái tạo. Nhưng chính những bài học ấy có thể là tài sản cho giai đoạn mới. Một doanh nghiệp chưa từng đi qua sóng gió sẽ rất dễ nói hay về khát vọng. Một doanh nghiệp đã trả giá bằng dòng tiền, bằng áp lực nợ, bằng những năm tháng tái cấu trúc, nếu vẫn chọn quay lại với năng lượng, thì khát vọng ấy có trọng lượng hơn.
Ở Cà Ná, phía sau những đại công trường ấy không chỉ là tham vọng của một doanh nghiệp, mà còn là hình ảnh của khu vực tư nhân Việt Nam đang bước vào một “cuộc chơi lớn” hơn.
Cuộc chơi ấy cần vốn, chính sách rõ ràng, quản trị minh bạch, kỷ luật tài chính lẫn cần cả công nghệ, đối tác quốc tế và cần cả sức bền tâm lý của những người dám đi đường dài.
Nhưng một quốc gia muốn tăng trưởng cao, muốn tự chủ hơn và muốn có vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu thì không thể thiếu những doanh nghiệp dám bước vào cuộc chơi đó.
Trungnam đang cố gắng biến hai tinh thần ấy thành những công trình cụ thể ở Cà Ná như nhà máy điện, cảng biển, khu công nghiệp, logistics và một trung tâm năng lượng mới.
Có thể sẽ còn nhiều nút thắt phải tháo. Hành trình từ bản vẽ đến vận hành thương mại sẽ còn nhiều vòng đàm phán, thu xếp vốn, hoàn thiện thủ tục, vượt qua biến động thị trường. Nhưng việc một doanh nghiệp Việt Nam luôn khát khao làm đước các dự án điện khí LNG, điện gió ngoài khơi, hydrogen hay hạ tầng công nghiệp năng lượng rồi từ đó mở rộng hệ sinh thái với data center, AI… đã tự thân nói lên một điều: giấc mơ công nghiệp của người Việt chưa bao giờ tắt.
Trong kỷ nguyên tăng trưởng mới, Việt Nam cần những giấc mơ rất hiện thực với cảng biển, đường dây truyền tải, nhà máy điện, cùng những giọt mồ hôi giữa công trường nắng như đổ lửa cùng những bảng tính tài chính khiến người trong cuộc nhiều đêm mất ngủ. Nhưng với những công trình được làm thật cùng những doanh nghiệp dám đi thật xa ở những lĩnh vực khó thì vị thế của đất nước ngày càng được khẳng định.