-
Cúm A có thể gây suy hô hấp, nguy hiểm tính mạng dù chỉ sốt nhẹ -
Bộ Y tế yêu cầu chủ động phát hiện, ngăn chặn nguy cơ ngộ độc thực phẩm -
Tạo nền tảng bền vững cho dinh dưỡng trẻ em Việt -
Kê đơn thuốc điện tử, thúc đẩy kết nối hệ sinh thái chăm sóc sức khỏe -
Nhân viên y tế có thể hưởng phụ cấp ưu đãi nghề tới 80%
Những tổn thương tâm lý sau áp lực học đường
Các ca bệnh được ghi nhận tại cơ sở y tế cho thấy áp lực tinh thần có thể liên quan đến rối loạn ăn uống, trầm cảm và những hành vi gây nguy hiểm cho sức khỏe nếu không được nhận diện, can thiệp kịp thời. Những lời nhận xét tiêu cực về ngoại hình hay hành vi cô lập trong môi trường học đường đôi khi bị xem là chuyện thường gặp ở tuổi mới lớn.
![]() |
| Các ca bệnh được ghi nhận tại cơ sở y tế cho thấy áp lực tinh thần có thể liên quan đến rối loạn ăn uống, trầm cảm và những hành vi gây nguy hiểm cho sức khỏe nếu không được nhận diện, can thiệp kịp thời. |
Tuy nhiên, khi những trải nghiệm này kéo dài, đặc biệt đối với người trẻ đang trong giai đoạn hình thành nhận thức về bản thân và các mối quan hệ xã hội, tác động đến sức khỏe tâm thần có thể trở nên nghiêm trọng. Thực tế điều trị tại một số bệnh viện cho thấy, phía sau những biểu hiện thay đổi thói quen ăn uống, thu mình hoặc lo âu kéo dài có thể là các rối loạn cần được thăm khám và điều trị chuyên khoa.
Tại Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, các bác sỹ vừa tiếp nhận và điều trị trường hợp nữ sinh viên 21 tuổi mắc chứng ăn vô độ tâm thần, với những hành vi ăn uống mất kiểm soát rồi tự gây nôn nhằm tránh tăng cân. Đáng chú ý, những biểu hiện bất thường của bệnh nhân xuất hiện trong bối cảnh cô thường xuyên bị bạn bè chê bai ngoại hình, đồng thời chịu nhiều áp lực từ học tập và các mối quan hệ.
Theo Ths.Phạm Thị Nguyệt Nga, bệnh nhân vốn có tính cách trầm, ít chia sẻ. Khi bước vào đại học, những nhận xét tiêu cực về ngoại hình khiến nữ sinh ngày càng quan tâm đến cân nặng, bắt đầu nhịn ăn và sử dụng trà, cà phê với mong muốn giảm cân. Cùng với những căng thẳng trong cuộc sống, việc kiểm soát ăn uống dần trở nên khó khăn, khiến bệnh nhân xuất hiện các cơn ăn với lượng thực phẩm lớn và cảm giác không thể tự dừng lại.
Sau mỗi lần ăn quá mức, nữ sinh tìm cách loại bỏ thức ăn khỏi cơ thể bằng việc tự gây nôn, tập luyện quá sức, đồng thời sử dụng thuốc nhuận tràng và thuốc lợi tiểu để tránh tăng cân. Tình trạng này ngày càng nghiêm trọng, với tần suất các cơn ăn vô độ tăng lên 8-10 lần mỗi tuần, sau đó gần như xảy ra hằng ngày, ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe và việc học tập.
Khi được đưa đến bệnh viện, bệnh nhân có chỉ số khối cơ thể (BMI) 17,6, rối loạn kinh nguyệt và hạ kali máu. Các bác sỹ chẩn đoán người bệnh mắc chứng ăn vô độ tâm thần, đồng thời ghi nhận tiền sử tự gây thương tích khi căng thẳng.
Một trường hợp khác được điều trị tại Viện Sức khỏe tâm thần là nam sinh viên 22 tuổi, có hơn một năm thường xuyên ăn lượng thức ăn lớn, có thời điểm gấp ba lần bình thường, rồi tự gây nôn. Theo Thạc sỹ, bác sỹ nội trú Ngô Tuấn Khiêm, có lần bệnh nhân nôn nhiều đến mức ngất xỉu, phải nhập viện và được phát hiện hạ kali máu.
Sau một tháng điều trị bằng thuốc kết hợp can thiệp tâm lý, tình trạng của nam sinh cải thiện khoảng 50-60%. Qua 4-5 lần tái khám tiếp theo, người bệnh dần ổn định, không còn xuất hiện những đợt ăn quá mức như trước.
PGS-TS.Nguyễn Văn Tuấn, Viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, chứng ăn vô độ tâm thần thường khởi phát ở tuổi vị thành niên hoặc giai đoạn đầu trưởng thành, liên quan đến nhiều yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội. Bên cạnh yếu tố di truyền, hoạt động thần kinh và nội tiết, những đặc điểm như tính cầu toàn, lòng tự trọng thấp, khó điều hòa cảm xúc, cùng áp lực ngoại hình, bắt nạt và ảnh hưởng từ mạng xã hội có thể góp phần làm gia tăng nguy cơ rối loạn.
Từ trường hợp này, các bác sỹ cảnh báo những hành vi bắt nạt học đường, kể cả khi không có bạo lực thể chất, vẫn có khả năng gây tổn thương tâm lý kéo dài. Việc liên tục bị cô lập, xúc phạm hoặc hạ thấp giá trị bản thân có thể làm gia tăng nguy cơ xuất hiện lo âu, trầm cảm, rối loạn hoảng sợ, rối loạn stress sau sang chấn và trong một số trường hợp có thể kèm theo những triệu chứng loạn thần.
Các chuyên gia cho rằng, sức khỏe tâm thần của trẻ em và thanh thiếu niên chịu tác động đồng thời từ nhiều yếu tố, trong đó có môi trường gia đình, nhà trường, quan hệ bạn bè và những áp lực về hình ảnh bản thân. Những lời chê bai ngoại hình hoặc hành vi cô lập không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến rối loạn tâm thần, nhưng có thể trở thành yếu tố nguy cơ đáng kể, đặc biệt khi kéo dài và không được hỗ trợ kịp thời.
Bởi vậy, gia đình cần chú ý đến những thay đổi bất thường về cảm xúc, hành vi, giấc ngủ và thói quen ăn uống của con em mình, thay vì chỉ quan tâm đến kết quả học tập hoặc những biểu hiện sức khỏe dễ nhận thấy bên ngoài.
Điều trị trúng đích mở thêm cơ hội kiểm soát hen nặng
Dù chỉ chiếm khoảng 7-11% số người mắc hen, nhóm bệnh nhân hen nặng phải đối mặt với nguy cơ tái phát các đợt cấp, nhập viện và suy giảm chất lượng cuộc sống. Những tiến bộ trong điều trị sinh học đang mở ra hướng tiếp cận cá thể hóa, giúp kiểm soát bệnh hiệu quả hơn và giảm gánh nặng điều trị lâu dài.
Hen phế quản là bệnh hô hấp mạn tính phổ biến, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và sinh hoạt của người bệnh nếu không được kiểm soát tốt. Đặc biệt, đối với nhóm bệnh nhân hen nặng, các triệu chứng khó thở, ho, khò khè và tức ngực có thể kéo dài hoặc tái diễn, làm gián đoạn công việc, học tập và sinh hoạt, đồng thời gia tăng nguy cơ phải cấp cứu, nhập viện do những đợt kịch phát khó lường.
Tại hội thảo khoa học với chủ đề “Trúng đích IL-5, xu hướng điều trị hen nặng” do Hội Hô hấp Việt Nam phối hợp với GSK Việt Nam tổ chức, các chuyên gia hô hấp, dị ứng và miễn dịch đã thảo luận về những thách thức trong quản lý hen nặng, đồng thời cập nhật các tiến bộ trong nhận diện cơ chế bệnh sinh và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp với từng người bệnh.
Theo GS-TS.Ngô Quý Châu, Chủ tịch Hội Hô hấp Việt Nam, ước tính khoảng 3,23% dân số Việt Nam đang sống chung với bệnh hen, trong đó khoảng 7-11% thuộc nhóm hen nặng. Mặc dù chiếm tỷ lệ không lớn trong tổng số người mắc bệnh, nhóm này lại phải đối mặt với nguy cơ cao xảy ra các đợt cấp tái diễn, suy giảm chức năng hô hấp và ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống.
Đáng chú ý, theo số liệu được dẫn tại hội thảo, nhóm bệnh nhân hen nặng chiếm hơn 70% tổng chi phí điều trị hen. Gánh nặng kinh tế không chỉ đến từ thuốc điều trị mà còn liên quan đến các lần thăm khám, cấp cứu, nhập viện và những ảnh hưởng gián tiếp khi người bệnh phải hạn chế hoạt động hoặc gián đoạn công việc.
PGS-TS.Phan Thu Phương, Viện trưởng Viện Hô hấp Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, trong hơn một thập kỷ qua, nhiều quốc gia đã tích lũy được những kinh nghiệm thực tiễn quan trọng trong việc ứng dụng các phương pháp điều trị hướng đích cho những bệnh nhân hen nặng phù hợp. Song song với đó, những hiểu biết về cơ chế sinh học của bệnh cũng tiếp tục được mở rộng, tạo nền tảng cho việc lựa chọn liệu pháp điều trị chính xác hơn.
Một trong những hướng nghiên cứu được quan tâm là vai trò của viêm type 2, đặc biệt là interleukin-5 (IL-5), trong đáp ứng viêm liên quan đến bạch cầu ái toan. Đây là những yếu tố có ý nghĩa trong việc xác định một số kiểu hình hen nặng và lựa chọn các phương pháp điều trị sinh học phù hợp.
Thuốc sinh học được xem là một lựa chọn điều trị trúng đích đối với những bệnh nhân hen nặng đáp ứng tiêu chí chuyên môn. Thông qua tác động vào các con đường viêm cụ thể, những liệu pháp phù hợp có thể giúp giảm nguy cơ xuất hiện cơn hen cấp, hạn chế nhu cầu sử dụng corticosteroid đường uống và cải thiện khả năng tham gia các hoạt động thể chất, xã hội.
Đặc biệt, việc giảm phụ thuộc vào corticosteroid đường uống có ý nghĩa đối với những bệnh nhân phải điều trị kéo dài, bởi sử dụng nhóm thuốc này thường xuyên có thể làm gia tăng nguy cơ gặp các tác dụng không mong muốn. Tuy nhiên, lựa chọn điều trị sinh học cần dựa trên đánh giá chuyên môn, đặc điểm bệnh và mức độ đáp ứng của từng người, thay vì áp dụng đại trà cho tất cả bệnh nhân hen.
Các chuyên gia cũng đề cập đến mục tiêu tiến tới trạng thái hen thoái lui, theo đó người bệnh đạt được sự kiểm soát ổn định trong thời gian dài, giảm các đợt cấp và hạn chế gánh nặng điều trị. Đây là hướng tiếp cận được quan tâm trong quản lý hen nặng hiện đại, song không đồng nghĩa với việc bệnh đã được chữa khỏi hoàn toàn.
Tăng tốc để chấm dứt dịch bệnh AIDS trước năm 2030
Việt Nam đã đạt nhiều kết quả quan trọng trong kiểm soát HIV/AIDS, với 96% người điều trị bằng thuốc ARV đạt tải lượng virus dưới ngưỡng ức chế. Tuy nhiên, xu hướng lây nhiễm qua đường tình dục gia tăng, đặc biệt ở người trẻ, cùng những thách thức về nguồn lực đang đặt ra yêu cầu đổi mới công tác dự phòng, mở rộng tiếp cận điều trị để đạt mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS trước năm 2030.
Sau 5 năm triển khai Chỉ thị số 07-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS, Việt Nam đã đạt được những chuyển biến đáng ghi nhận trong dự phòng, xét nghiệm và điều trị. Tuy nhiên, trong bối cảnh thời hạn thực hiện mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS trước năm 2030 đang đến gần, những kết quả đạt được mới chỉ là nền tảng để tiếp tục mở rộng các biện pháp can thiệp, nhất là đối với những nhóm có nguy cơ lây nhiễm cao.
Tại Hội thảo “Định hướng nhiệm vụ, giải pháp tiến tới chấm dứt dịch bệnh AIDS tại Việt Nam trước năm 2030” do Bộ Y tế phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức, các chuyên gia và đại diện cơ quan quản lý cùng nhìn nhận công tác phòng, chống HIV/AIDS đang đứng trước yêu cầu chuyển từ duy trì thành quả sang đẩy nhanh tiến độ thực hiện những mục tiêu còn lại.
Theo PGS-TS.Phạm Đức Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế), Việt Nam hiện ghi nhận 258.047 người nhiễm HIV còn sống, phân bố tại nhiều địa phương. Những năm qua, hệ thống y tế từ Trung ương đến cơ sở đã từng bước mở rộng mạng lưới xét nghiệm, điều trị và các dịch vụ dự phòng, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người nhiễm HIV.
Đến nay, hơn 1.700 cơ sở y tế đã triển khai xét nghiệm sàng lọc HIV cho trên 2 triệu lượt người mỗi năm. Hoạt động phân phát sinh phẩm tự xét nghiệm HIV được thực hiện tại 25/34 tỉnh, thành phố, trong khi xét nghiệm khẳng định HIV đã được triển khai tại toàn bộ 34 tỉnh, thành phố và xét nghiệm phát hiện nhiễm mới được thực hiện tại 30 địa phương.
Việc mở rộng mạng lưới xét nghiệm có ý nghĩa quan trọng đối với phát hiện sớm người nhiễm HIV, kết nối điều trị kịp thời và hạn chế nguy cơ lây truyền trong cộng đồng. Cùng với các dịch vụ tại cơ sở y tế, những mô hình xét nghiệm và tiếp cận dựa vào cộng đồng cũng giúp đưa hoạt động dự phòng đến gần hơn với các nhóm có nguy cơ cao.
Tính đến ngày 14/6/2026, cả nước có 514 cơ sở y tế triển khai điều trị HIV, bao gồm cả các cơ sở trong trại giam, với 191.706 bệnh nhân được theo dõi và điều trị bằng thuốc kháng virus ARV. Theo số liệu được trình bày tại hội thảo, tỷ lệ người điều trị đạt tải lượng virus dưới ngưỡng ức chế là 96%, vượt mốc mục tiêu 95% của chiến lược quốc gia.
Kết quả này cho thấy hiệu quả của việc duy trì điều trị ARV trong kiểm soát HIV. Khi người bệnh tuân thủ phác đồ và đạt tải lượng virus dưới ngưỡng phát hiện một cách bền vững, sức khỏe được cải thiện, nguy cơ tiến triển bệnh giảm và khả năng lây truyền HIV qua đường tình dục được ngăn ngừa.
Bên cạnh điều trị, nhiều biện pháp dự phòng đã được triển khai nhằm giảm nguy cơ lây nhiễm trong cộng đồng. Theo báo cáo tại hội thảo, các chương trình đã cung cấp bao cao su cho hơn 1,43 triệu lượt người, chất bôi trơn cho hơn 481.000 lượt người và kim tiêm sạch cho trên 475.000 lượt người nghiện chích ma túy. Tỷ lệ sử dụng thuốc dự phòng trước phơi nhiễm HIV (PrEP) trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới được báo cáo đạt 29,7%.
Một kết quả đáng chú ý khác là 96% người đang điều trị ARV có bảo hiểm y tế, góp phần duy trì khả năng tiếp cận dịch vụ khám, chữa bệnh và giảm gánh nặng chi phí cho người bệnh. Cùng với đó, Bộ Y tế đang đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý HIV/AIDS, triển khai kế hoạch giai đoạn 2025-2030 và các hoạt động làm sạch, bổ sung dữ liệu nhằm nâng cao hiệu quả theo dõi, kết nối dịch vụ.
Tuy nhiên, những tiến bộ về xét nghiệm và điều trị chưa đồng nghĩa với việc nguy cơ lây nhiễm HIV đã được kiểm soát hoàn toàn. Theo các tham luận tại hội thảo, tình hình dịch vẫn diễn biến phức tạp, trong đó đường lây truyền qua quan hệ tình dục ngày càng đáng quan tâm, đặc biệt ở giới trẻ và nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới.
Thực tế này đòi hỏi phương thức truyền thông, dự phòng và xét nghiệm phải tiếp tục thay đổi để phù hợp với những đặc điểm mới của dịch. Các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS không thể chỉ dựa vào hoạt động tuyên truyền đại trà mà cần hướng đến từng nhóm đối tượng, bảo đảm thông tin dễ tiếp cận, phù hợp với nhu cầu và hành vi nguy cơ.
Một khó khăn khác được các chuyên gia chỉ ra là vẫn còn người dân thiếu kiến thức về đường lây truyền HIV, hiệu quả điều trị và các biện pháp dự phòng. Tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử cũng có thể trở thành rào cản khiến người có nguy cơ e ngại xét nghiệm hoặc người đã được chẩn đoán chậm tiếp cận dịch vụ điều trị.
Trong khi đó, nguồn viện trợ quốc tế dành cho phòng, chống HIV/AIDS có xu hướng giảm, mô hình tài trợ thay đổi, tạo thêm sức ép đối với khả năng duy trì và mở rộng các chương trình dự phòng, điều trị trong giai đoạn tới. Đây là thách thức đáng chú ý khi mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS đòi hỏi sự liên tục của dịch vụ và nguồn lực ổn định, đặc biệt đối với những nhóm khó tiếp cận.
Trước yêu cầu này, đại diện Vụ Y tế và Thể thao thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương đề xuất tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, rà soát cơ chế, chính sách và ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống HIV/AIDS, bảo đảm đồng bộ với mục tiêu của chiến lược quốc gia.
Cùng với hoàn thiện chính sách, vấn đề tài chính được xác định là một trong những điều kiện quan trọng để duy trì kết quả lâu dài. Theo đó, cần tăng cường huy động nguồn lực trong nước, mở rộng sự tham gia của các tổ chức và khu vực tư nhân, đồng thời nâng tỷ trọng chi trả của Quỹ Bảo hiểm y tế đối với các dịch vụ khám, chữa bệnh liên quan đến HIV/AIDS và thuốc ARV.
Định hướng được đề xuất là phấn đấu bảo đảm 100% người nhiễm HIV trong chuỗi điều trị có bảo hiểm y tế, qua đó giảm nguy cơ gián đoạn điều trị vì khó khăn tài chính và từng bước hình thành cơ chế bảo đảm nguồn lực bền vững khi viện trợ quốc tế thu hẹp.
Hoạt động truyền thông cũng cần được tăng cường trong trường học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, khu công nghiệp và khu chế xuất, đồng thời lồng ghép với các chương trình chăm sóc sức khỏe, phòng, chống ma túy và hỗ trợ sinh kế. Các tổ chức cộng đồng có vai trò quan trọng trong kết nối người có nguy cơ với dịch vụ y tế, vận động giảm kỳ thị và hỗ trợ người nhiễm HIV duy trì điều trị.
-
Nhân viên y tế có thể hưởng phụ cấp ưu đãi nghề tới 80% -
Tin mới y tế ngày 12/10: Báo động gánh nặng bệnh tim, thận, chuyển hóa -
Nâng chất lượng sống cho phụ nữ tuổi trung niên -
Bộ Y tế yêu cầu truy xuất nguồn thực phẩm vụ 55 người nhập viện -
Người trẻ khỏe mạnh vẫn có thể sốc sốt xuất huyết sau khi hạ sốt -
Phát triển công nghiệp dược liệu phải bắt đầu từ kiểm soát chất lượng -
Gần 2.000 người chạy vì môi trường không khói thuốc, bảo vệ sức khỏe phụ nữ và trẻ em
-
Hưng Yên có 5 doanh nhân được vinh danh “Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu” năm 2026 -
FPT lập liên minh chiến lược với doanh nghiệp AI Cloud hàng đầu Hàn Quốc, thúc đẩy đổi mới AI toàn cầu -
Saigontel trở thành đại lý bán lại dịch vụ Starlink đầu tiên được cấp phép tại Việt Nam -
Gemadept Run 2026 khởi động tại Hải Phòng với thông điệp "Mỗi bước chạy - Một tương lai" -
Ứng dụng miễn phí Top 1 trên AppStore và GooglePlay tặng quà hàng triệu người Việt Nam ngày 10/10/2026 -
AEONMALL Việt Nam cùng TP. Quảng Ninh gieo mầm cho một tương lai xanh

