-
Hải Phòng mở thêm dư địa cho doanh nghiệp công nghệ -
Quảng Ninh đưa di sản, tài sản trí tuệ vào danh mục tài sản cố định đặc thù -
Đà Nẵng thử nghiệm có kiểm soát giải pháp chuyển đổi tài sản số sang tiền pháp định -
Yêu cầu nghiên cứu, xử lý về bảo hộ đối tượng sở hữu trí tuệ mới, phi truyền thống -
Nhà mạng, nhà cung cấp phải xác thực, bảo vệ thông tin và tài khoản người dùng -
Điều kiện để doanh nghiệp được kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng
Luật Công nghiệp công nghệ số được Quốc hội ban hành ngày 14/6/2025 và có hiệu lực từ năm 2026. Theo đó, tài sản số là tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự, được thể hiện dưới dạng dữ liệu số, được tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao và xác thực bởi công nghệ số trên môi trường điện tử. Quyền và nghĩa vụ của các bên đối với hoạt động có liên quan đến tài sản số được nhắc đến trong điều khoản về nội dung quản lý tài sản số.
TS. Phạm Nguyễn Anh Huy, Giảng viên cấp cao ngành Tài chính, Đại học RMIT cho rằng, việc nắm giữ tài sản số như tiền điện tử tại Việt Nam chưa bị đánh thuế, khiến chúng trở thành một tài sản hấp dẫn. Theo số liệu của Triple A (một tổ chức thanh toán tiền mã hóa được Cơ quan Tiền tệ Singapore cấp phép), với 21,2% dân số sở hữu tiền điện tử, Việt Nam đứng thứ hai thế giới về quyền sở hữu tiền điện tử.
Theo ông Phan Đức Trung, Chủ tịch Hiệp hội Blockchain Việt Nam (VBA), Bộ Tài chính sẽ triển khai thực hiện chính sách về thuế trực thu đối với tài sản số, khi loại tài sản này được pháp luật thừa nhận. Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của cá nhân, tổ chức, phổ biến là thuế lãi vốn, thuế thu nhập, bao gồm thuế thu nhập cá nhân (PIT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (CIT).
Nghiên cứu của TS. Bùi Thị Mến, Khoa Tài chính, Học viện Ngân hàng và TS. Phạm Đức Anh, Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội (2025) cho thấy, một số quốc gia trên thế giới như Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Anh, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc đã xây dựng các chính sách thuế trực thu cho tài sản số và đa phần có xu hướng xem tài sản điện tử là tài sản chịu thuế.
Cụ thể, Cơ quan Thuế vụ Mỹ (IRS) quy định, cá nhân, tổ chức phải nộp thuế thu nhập khi bán/trao đổi tài sản điện tử có lãi, áp dụng với cả giao dịch chuyển đổi giữa các loại tiền điện tử. Mức thuế suất được xác định tùy theo thời gian nắm giữ. Thời gian nắm giữ dưới 1 năm có mức thuế suất 10-37% và trên 1 năm thuế suất áp dụng là 0-20%. Người nộp thuế được yêu cầu phải kê khai tất cả các giao dịch trên 10.000 USD cho mỗi lần giao dịch.
Tại EU, chưa có quy định thống nhất về vấn đề này, mỗi nước thành viên có chính sách riêng. Mặc dù vậy, đa số các nước coi tài sản điện tử là tài sản đầu tư, áp thuế thu nhập hoặc thuế lãi vốn. Trong khi đó, một số nước miễn thuế cho giao dịch nhỏ lẻ hoặc nắm giữ dài hạn.
Australia áp dụng cả thuế thu nhập và thuế lãi vốn tùy đối tượng, giảm 50% thuế lãi vốn cho tài sản nắm giữ trên 12 tháng. Tại Anh, lợi nhuận trên 6.000 bảng (GBP) chịu thuế lãi vốn lên tới 20% phần thưởng khai thác và airdrop (một giao thức blockchain phân phối token hoặc tài sản kỹ thuật số cho người dùng) chịu thuế thu nhập lên tới 45%.
Tại Nhật Bản, Chính phủ xem thu nhập từ tiền điện tử là thu nhập khác, đồng thời áp thuế lũy tiến từ 15-55% tùy mức thu nhập. Cơ quan Thuế Nhật Bản yêu cầu, sàn giao dịch báo cáo thông tin khách hàng có giao dịch trên 10 triệu yên/năm. Hàn Quốc, từ năm 2022, đã áp thuế 20% với lợi nhuận từ tài sản điện tử trên 2,5 triệu won.
Nghiên cứu chỉ ra rằng, với các quốc gia đã thừa nhận tiền điện tử là phương thức thanh toán hợp pháp, họ thường đánh các loại thuế gồm thuế lãi vốn, thuế thu nhập, hoặc trong nhiều trường hợp không đánh thuế (hoặc miễn thuế). Trong đó, thuế lãi vốn áp dụng khi bán hoặc trao đổi tài sản điện tử và có lợi nhuận; thuế thu nhập áp dụng cho các hoạt động khai thác, đặt cược, nhận thưởng hoặc thu nhập liên quan đến tiền điện tử. Một số quốc gia như Singapore còn có chính sách miễn thuế lãi vốn, tạo môi trường thuận lợi cho nhà đầu tư.
Dưới đây là một số đề xuất trong xây dựng chính sách thuế trực thu tài sản số tại Việt Nam.
Một là, Chính phủ và các cơ quan, ban, ngành nên khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn dưới luật (nghị định, thông tư…) chi tiết về thuế đối với tài sản số. Trong đó, tập trung làm rõ định nghĩa từng loại tài sản số cho mục đích thuế.
Hai là, quy định rõ phương thức áp dụng thuế thu nhập và thuế lãi vốn với tài sản số. Đối với cá nhân, lợi nhuận từ mua bán, trao đổi, đầu tư tài sản số nên được xem là thu nhập chịu thuế. Đối với doanh nghiệp, thu nhập từ các hoạt động kinh doanh tài sản số cần chịu thuế CIT theo thuế suất hiện hành. Cơ quan thuế cần hướng dẫn cách xác định giá vốn, thời điểm xác định thu nhập. Đồng thời, cân nhắc ưu đãi thuế cho đầu tư dài hạn và ngưỡng miễn thuế cho giao dịch giá trị nhỏ.
Ba là, Bộ Tài chính cần đẩy nhanh quá trình xây dựng văn bản hướng dẫn doanh nghiệp cách hạch toán, ghi nhận và đánh giá lại tài sản số trên bảng cân đối kế toán, giải thích và bổ sung thông tin minh bạch, rõ ràng trên bản thuyết minh báo cáo tài chính.
-
Nhà mạng, nhà cung cấp phải xác thực, bảo vệ thông tin và tài khoản người dùng -
Điều kiện để doanh nghiệp được kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng -
Việt Nam bước vào chương tăng trưởng mới: Khi dữ liệu trở thành nền tảng của niềm tin đầu tư -
Mỗi địa điểm có 1 mã định danh duy nhất, hiển thị trên VNeID -
Hải Phòng kiến tạo không gian mới cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo -
Công nghệ và AI: “Chìa khóa” tăng trưởng doanh nghiệp Việt đang đặt cược -
Quản lý 100% cao tốc bằng ứng dụng AI, Big Data
-
Cổ phiếu SSB của SeABank vào rổ FTSE Global All Cap -
Điều gì tạo nên một nhà máy thông minh: Góc nhìn từ kinh nghiệm toàn cầu của Schneider Electric -
Cập nhật giá đơn vị Quỹ liên kết đơn vị của AIA Việt Nam ngày 26/8/2026 -
Chiến lược "lấy con người làm trọng tâm" giúp BITEX chinh phục HR Asia Awards 2026 -
Quản lý đội xe của công ty thí nghiệm điện: “Xe GAZ thực dụng và kinh tế” -
Amata City Long Thành - Kiến tạo nền tảng công nghiệp bền vững
