Thứ Tư, Ngày 21 tháng 10 năm 2026,
Du lịch y tế Việt Nam hướng tới thị trường quốc tế, mở cơ hội đầu tư tại 8 địa phương
D.Ngân - 21/10/2026 10:37
 
Bộ Y tế đề xuất phát triển các điểm đến du lịch y tế trọng điểm tại 8 địa phương, hướng tới hình thành hệ sinh thái dịch vụ chất lượng cao, có sức cạnh tranh trong khu vực.

Du lịch y tế đang được định hướng trở thành một lĩnh vực phát triển mới, kết hợp thế mạnh chuyên môn của ngành y tế với tiềm năng du lịch, nghỉ dưỡng và dịch vụ của Việt Nam.

Tuy nhiên, để tham gia thị trường đang có sự cạnh tranh mạnh mẽ trong khu vực, Việt Nam cần xây dựng những sản phẩm y tế đủ sức hấp dẫn, đồng thời hoàn thiện cơ chế quản lý, tiêu chuẩn chất lượng và chính sách hỗ trợ người bệnh quốc tế.

du-lich-y-te-3
Đề án được xây dựng nhằm cụ thể hóa các định hướng lớn về phát triển y tế và du lịch, từng bước đưa du lịch y tế trở thành lĩnh vực có khả năng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng dịch vụ và thu hút nguồn lực đầu tư.

Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên vừa ký văn bản gửi các bộ, ngành xin ý kiến đối với Dự thảo Quyết định phê duyệt Đề án "Phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026-2030". Đề án được xây dựng nhằm cụ thể hóa các định hướng lớn về phát triển y tế và du lịch, từng bước đưa du lịch y tế trở thành lĩnh vực có khả năng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng dịch vụ và thu hút nguồn lực đầu tư.

Mục tiêu đến năm 2030 là hình thành chuỗi dịch vụ du lịch y tế chuyên nghiệp, an toàn, chất lượng cao; phát triển những sản phẩm và điểm đến có năng lực cạnh tranh trong khu vực, từng bước xây dựng thương hiệu du lịch y tế Việt Nam trên thị trường quốc tế. Đồng thời, mở rộng khả năng cung ứng dịch vụ y tế chất lượng cao trong nước, góp phần giảm nhu cầu ra nước ngoài khám bệnh, chữa bệnh của người dân.

Một trong những nội dung đáng chú ý của Dự thảo Đề án là lựa chọn 8 địa phương ưu tiên phát triển các điểm đến du lịch y tế, gồm: Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Huế, Khánh Hòa và An Giang, với trọng tâm tại Phú Quốc.

Đây là những địa bàn có tiềm năng kết hợp giữa dịch vụ khám chữa bệnh, hệ thống hạ tầng du lịch, lưu trú và kết nối giao thông. Tuy nhiên, việc xác định điểm đến cụ thể sẽ căn cứ vào năng lực cung ứng dịch vụ y tế, chất lượng chuyên môn, cơ sở vật chất, tài nguyên du lịch, điều kiện giao thông và nhu cầu thị trường, thay vì phát triển dàn trải.

Đáng chú ý, Bộ Y tế đặt mục tiêu đến năm 2030 có tối thiểu 20 bệnh viện đạt chứng nhận chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, trong đó ít nhất 5 bệnh viện công lập. Đây được xem là một trong những điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh, củng cố niềm tin của người bệnh và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường chăm sóc sức khỏe quốc tế.

Theo Dự thảo, các sản phẩm du lịch y tế sẽ được phát triển theo nhiều nhóm dịch vụ, bao gồm khám sức khỏe, tầm soát và phát hiện sớm bệnh; nha khoa và hỗ trợ sinh sản; khám chữa bệnh chuyên sâu; y học cổ truyền và phục hồi chức năng; chăm sóc nâng cao sức khỏe, nghỉ dưỡng và chăm sóc người cao tuổi.

Việc đa dạng hóa sản phẩm được kỳ vọng giúp Việt Nam tiếp cận những nhóm khách hàng có nhu cầu khác nhau, bao gồm người nước ngoài đến khám chữa bệnh, khách du lịch kết hợp chăm sóc sức khỏe và người Việt Nam có nhu cầu sử dụng các dịch vụ y tế chất lượng cao.

Đối với nhóm dịch vụ chuyên sâu, chất lượng điều trị, năng lực đội ngũ y bác sỹ, trang thiết bị và khả năng bảo đảm an toàn người bệnh sẽ là những yếu tố then chốt. Trong khi đó, các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng và nghỉ dưỡng đòi hỏi sự kết nối hiệu quả giữa cơ sở y tế với doanh nghiệp du lịch, khách sạn và các đơn vị cung ứng dịch vụ liên quan.

Dự thảo cũng đặt ra yêu cầu xây dựng quy trình phục vụ người bệnh quốc tế theo hướng đồng bộ, bao quát toàn bộ quá trình tư vấn, đặt lịch, tiếp nhận, điều trị, thanh toán và theo dõi sau điều trị.

Thông tin về chất lượng, chi phí và nội dung dịch vụ phải được công khai, minh bạch, cung cấp bằng nhiều ngôn ngữ để người bệnh có đủ cơ sở lựa chọn. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng trải nghiệm, đồng thời từng bước xây dựng uy tín cho các cơ sở y tế tham gia thị trường quốc tế.

Đặc biệt, việc phát triển du lịch y tế còn mở ra khả năng hình thành các chuỗi dịch vụ liên kết giữa bệnh viện, doanh nghiệp du lịch, cơ sở lưu trú, đơn vị vận chuyển và các tổ chức bảo hiểm. Sự phối hợp giữa các lĩnh vực được kỳ vọng tạo thêm giá trị cho sản phẩm du lịch, kéo dài thời gian sử dụng dịch vụ và thu hút nguồn lực đầu tư vào hạ tầng chăm sóc sức khỏe.

Bên cạnh việc lựa chọn địa phương và xây dựng sản phẩm, Bộ Y tế xác định hoàn thiện thể chế, chính sách và cơ chế điều phối là những nhiệm vụ quan trọng để phát triển du lịch y tế trong giai đoạn tới.

Theo Dự thảo, Đề án đề xuất 5 nhóm giải pháp chính, trong đó chú trọng tháo gỡ những rào cản liên quan đến thị thực, lưu trú, giá dịch vụ, bảo hiểm, thanh toán quốc tế và huy động nguồn lực xã hội.

Một trong những định hướng được quan tâm là nghiên cứu chính sách tạo thuận lợi về thị thực, nhập cảnh, lưu trú và đi lại đối với người nước ngoài đến Việt Nam khám chữa bệnh cùng người chăm sóc đi kèm.

Đây là yếu tố có ý nghĩa đối với những dịch vụ y tế đòi hỏi thời gian điều trị, theo dõi hoặc phục hồi kéo dài. Một quy trình nhập cảnh, lưu trú thuận tiện có thể góp phần nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ, đồng thời tăng sức hấp dẫn của Việt Nam so với các điểm đến du lịch y tế khác trong khu vực.

Cùng với đó, Bộ Y tế đề xuất tiếp tục hoàn thiện các quy định và hướng dẫn về giá dịch vụ khám chữa bệnh phục vụ du lịch y tế, tạo điều kiện thuận lợi cho thanh toán quốc tế, bảo lãnh viện phí và kết nối giữa cơ sở y tế với doanh nghiệp bảo hiểm trong và ngoài nước.

Việc phát triển các sản phẩm bảo hiểm phù hợp với nhu cầu của khách du lịch y tế cũng được khuyến khích, góp phần giảm bớt những trở ngại về tài chính và thủ tục thanh toán trong quá trình sử dụng dịch vụ.

Ở góc độ đầu tư, các định hướng này có thể tạo thêm điều kiện để thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển cơ sở khám chữa bệnh chất lượng cao, trung tâm phục hồi chức năng, chăm sóc người cao tuổi và các dịch vụ hỗ trợ đi kèm.

Tuy nhiên, phát triển du lịch y tế không đơn thuần là mở rộng quy mô cơ sở vật chất hay gia tăng số lượng dịch vụ. Khả năng cạnh tranh còn phụ thuộc vào chất lượng nhân lực, hệ thống quản trị, tiêu chuẩn an toàn và tính minh bạch trong cung ứng dịch vụ.

Dự thảo Đề án vì vậy đặt ra yêu cầu đào tạo đội ngũ nhân lực có khả năng phục vụ khách quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực ngoại ngữ chuyên ngành, phiên dịch y khoa, quản lý chất lượng, giao tiếp và chăm sóc khách hàng.

Các cơ sở y tế tham gia mạng lưới du lịch y tế Việt Nam được định hướng nâng cao năng lực chuyên môn, tăng cường quản trị chất lượng, cải thiện trải nghiệm của người bệnh và công khai những thông tin cần thiết về dịch vụ. Việc áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng được quốc tế thừa nhận cũng được khuyến khích trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế.

Theo lộ trình dự kiến, giai đoạn 2026-2027 sẽ tập trung thiết lập các điều kiện cần thiết, lựa chọn sản phẩm và địa bàn phát triển. Năm 2028, các mô hình sẽ được triển khai tại những địa phương được lựa chọn, đồng thời tổ chức sơ kết, đánh giá hiệu quả. Giai đoạn 2029-2030 sẽ tiếp tục hoàn thiện và nhân rộng có chọn lọc các mô hình phù hợp.

Đáng chú ý, Bộ Y tế nhấn mạnh việc phát triển du lịch y tế phải bảo đảm an toàn người bệnh, đồng thời không ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân trong nước.

Yêu cầu này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các cơ sở y tế cần cân đối nguồn lực giữa nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng và phát triển những dịch vụ có khả năng thu hút khách quốc tế.

Việc mở rộng thị trường du lịch y tế cũng cần gắn với nâng cao năng lực của hệ thống y tế, tránh tình trạng tập trung nguồn lực vào những dịch vụ có khả năng sinh lợi cao nhưng làm gia tăng chênh lệch trong tiếp cận chăm sóc sức khỏe.

Với định hướng phát triển tại 8 địa phương cùng mục tiêu nâng chuẩn ít nhất 20 bệnh viện, dự thảo Đề án đang mở ra một hướng phát triển mới cho lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, tạo điều kiện kết nối y tế với du lịch, bảo hiểm và các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao.

Dù vậy, khả năng hiện thực hóa các mục tiêu sẽ phụ thuộc đáng kể vào tiến độ hoàn thiện chính sách, chất lượng triển khai và sự tham gia của các cơ sở y tế, doanh nghiệp cùng chính quyền địa phương.

Một thị trường du lịch y tế có sức cạnh tranh cần được xây dựng trên nền tảng chất lượng điều trị, an toàn người bệnh và sự minh bạch, qua đó vừa thu hút khách quốc tế, vừa tạo thêm nguồn lực phát triển hệ thống y tế Việt Nam.

Khai thác “mỏ vàng” du lịch y tế
Việt Nam có nhiều lợi thế phát triển du lịch y tế, từ hệ thống cơ sở khám chữa bệnh hiện đại, y học cổ truyền lâu đời, đến cảnh quan...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư