-
“Tổ Quốc Trong Tim” 2026 lan tỏa tình yêu nước, hướng tới thương hiệu văn hóa quốc gia -
Vinh danh 200 nhà giáo bền bỉ gieo chữ ở vùng khó -
Tưởng nhớ khúc tráng ca tại ga đường sắt Núi Gôi -
Xây dựng hệ sinh thái kinh tế bạc, hoàn thiện dữ liệu quốc gia về người cao tuổi -
7 nhóm nhân sự được xem xét tiếp nhận vào làm công chức từ tháng 8/2026
Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với dự thảo Thông tư quy định tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá các cơ sở giáo dục trong triển khai đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
Việc xây dựng Thông tư nhằm cụ thể hóa Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045”, đồng thời hình thành một khung đánh giá thống nhất để các cơ sở giáo dục xác định mức độ sẵn sàng, kết quả triển khai và từng bước cải thiện chất lượng.
![]() |
| Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất nguyên tắc không sử dụng kết quả đánh giá để xếp hạng, so sánh hoặc tạo áp lực giữa các cơ sở giáo dục. |
Dự thảo có phạm vi áp dụng rộng đối với các cơ sở thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, gồm giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên. Bên cạnh hệ thống tiêu chuẩn, tiêu chí, dự thảo còn quy định việc tự đánh giá, sử dụng kết quả đánh giá và cải tiến chất lượng dạy, học tiếng Anh trong trường học.
Điểm đáng chú ý là cách tiếp cận không dừng ở việc nâng cao chất lượng một môn học mà hướng tới tạo dựng môi trường trong đó tiếng Anh từng bước trở thành công cụ được sử dụng trong học tập, giao tiếp, quản lý và các hoạt động giáo dục.
Theo dự thảo, “đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai” được xác định là quá trình phát triển đồng bộ các điều kiện về chương trình, đội ngũ, môi trường giáo dục, học liệu, cơ sở vật chất, chuyển đổi số và các nguồn lực liên quan, qua đó tiếng Anh được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, phù hợp và hiệu quả trong dạy học, giao tiếp, quản lý và các hoạt động giáo dục.
Cách tiếp cận này đồng nghĩa với việc các trường không phải ngay lập tức chuyển mọi hoạt động sang tiếng Anh. Thay vào đó, môi trường sử dụng tiếng Anh sẽ được hình thành từng bước, căn cứ vào điều kiện thực tế và năng lực triển khai của từng cơ sở giáo dục.
Đây cũng là cơ sở để tránh áp dụng một mô hình đồng loạt trong bối cảnh điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, năng lực ngoại ngữ của người học và khả năng huy động nguồn lực giữa các địa phương, loại hình trường học còn khác nhau.
Để phù hợp với đặc thù của hệ thống giáo dục, dự thảo xây dựng khung đánh giá chất lượng dạy và học tiếng Anh cho 5 nhóm cơ sở gồm mầm non, phổ thông, đại học, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên. Mỗi loại hình có bộ tiêu chuẩn, tiêu chí tương ứng.
Việc thiết kế các bộ tiêu chí riêng vừa nhằm tạo sự thống nhất trong định hướng chung của toàn ngành, vừa bảo đảm quá trình đánh giá có sự phân hóa phù hợp với chức năng, đặc điểm người học và điều kiện hoạt động của từng loại hình giáo dục.
Một thay đổi đáng chú ý khác là dự thảo không đánh giá các trường đơn thuần theo hai trạng thái “đạt” hoặc “không đạt”, mà xác định kết quả triển khai theo 3 mức độ phát triển.
Ở Mức độ 1, mức độ khởi đầu, cơ sở giáo dục đã hình thành những điều kiện cần thiết và tổ chức được các hoạt động cơ bản để triển khai đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai.
Mức độ 2, mức độ phát triển được xác định khi cơ sở giáo dục đã củng cố, mở rộng các điều kiện và duy trì thường xuyên hoạt động sử dụng tiếng Anh trong dạy học, giao tiếp cũng như các hoạt động giáo dục.
Cao nhất là mức độ 3, mức độ phát triển cao, dành cho những cơ sở triển khai đồng bộ, hiệu quả các điều kiện và hoạt động, qua đó hình thành được môi trường sử dụng tiếng Anh toàn diện, bền vững trong toàn đơn vị.
Ba mức độ được thiết kế theo nguyên tắc kế thừa. Muốn đạt Mức độ 2, cơ sở giáo dục phải đáp ứng mức độ 1; để đạt mức độ 3 phải đạt mức độ 2 và đồng thời đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của mức độ phát triển cao.
Cách đánh giá này được kỳ vọng giúp từng cơ sở giáo dục nhận diện đúng vị trí của mình trong lộ trình đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai, từ đó xác định mục tiêu và nguồn lực cần thiết để chuyển lên mức phát triển cao hơn, thay vì cùng lúc chạy theo một chuẩn chung bất kể sự khác biệt về điều kiện thực tế.
Đáng chú ý, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất nguyên tắc không sử dụng kết quả đánh giá để xếp hạng, so sánh hoặc tạo áp lực giữa các cơ sở giáo dục.
Kết quả đánh giá trước hết được sử dụng để từng trường xác định thực trạng, xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng. Đối với cơ quan quản lý, dữ liệu này là căn cứ để theo dõi, tổng hợp, hỗ trợ các cơ sở giáo dục, hoạch định chính sách, dự báo và phân bổ nguồn lực phù hợp với lộ trình thực hiện Đề án.
Dự thảo cũng không thiết kế hoạt động đánh giá thành một quy trình hành chính độc lập. Các cơ sở giáo dục được yêu cầu tích hợp việc tự đánh giá vào kế hoạch nhiệm vụ năm học. Qua đó, đánh giá không nhằm hình thành thêm một bộ hồ sơ phục vụ kiểm tra mà phải trở thành một phần của hoạt động quản trị và kế hoạch phát triển của nhà trường.
Trên cơ sở kết quả tự đánh giá, các cơ sở giáo dục phải xây dựng và triển khai kế hoạch cải tiến chất lượng, chủ động huy động và bố trí nguồn lực; định kỳ rà soát, cập nhật, điều chỉnh giải pháp nhằm duy trì và nâng cao mức độ đã đạt được. Kết quả cải tiến tiếp tục trở thành căn cứ cho chu kỳ tự đánh giá sau, hình thành quá trình đánh giá - cải tiến liên tục.
Dữ liệu từ hoạt động này cũng được sử dụng để cơ quan quản lý xây dựng cơ sở dữ liệu, hướng dẫn, hỗ trợ, kiểm tra, giám sát, hoạch định chính sách, dự báo nhu cầu và phân bổ nguồn lực cho quá trình đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
Ở cấp địa phương, dự thảo giao UBND cấp tỉnh trách nhiệm chỉ đạo triển khai và bảo đảm các điều kiện cần thiết về đội ngũ, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và ngân sách. Các địa phương đồng thời có trách nhiệm xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ, huy động các nguồn lực hợp pháp và nhân rộng những mô hình triển khai hiệu quả.
Với cách tiếp cận theo lộ trình và mức độ phát triển, dự thảo hướng tới chuyển trọng tâm từ việc “học tiếng Anh như một môn học” sang từng bước hình thành năng lực và môi trường sử dụng tiếng Anh như một công cụ trong học tập, giao tiếp và hoạt động giáo dục. Đây cũng là một trong những điều kiện quan trọng để mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học đi từ định hướng chính sách vào thực tiễn, phù hợp với năng lực và điều kiện của từng cơ sở giáo dục.
-
7 nhóm nhân sự được xem xét tiếp nhận vào làm công chức từ tháng 8/2026 -
Nghiên cứu sinh Đại học Thanh Hoa tìm hiểu chiến lược nội địa hóa của J&T Cargo -
Điểm chuẩn sư phạm liên tục ở mức cao, sức hút nghề giáo đang trở lại? -
Thi lại tốt nghiệp THPT tại Tuyên Quang hoàn tất, "không có thí sinh và cán bộ vi phạm quy chế" -
Tăng cường kiểm tra đột xuất bếp ăn, công khai hình ảnh khay ăn để phụ huynh giám sát -
Bộ Giáo dục và Đào tạo: Ngày đầu thi lại tốt nghiệp THPT tại Tuyên Quang "an toàn, nghiêm túc" -
Thi tuyển sinh lớp 10 chỉ còn Toán và Ngữ văn?
-
VPBank SME đưa CEO vào lớp học để phản biện chính doanh nghiệp mình -
Từ hạ tầng số đến năng lực tăng trưởng mới -
Đồng hành dài lâu để những ước mơ không dang dở
-
Nhôm Đại Tân ra mắt tủ Kabi - Giải pháp tối ưu cho đại lý, cơ sở sản xuất -
Kinh tế số cần tạo ra giá trị thực cho tăng trưởng -
TP. Hồ Chí Minh gia nhập mạng lưới thành phố vì sức khoẻ thế hệ tương lai

