-
Đắk Lắk đặt mục tiêu hút 12 tỷ USD FDI; WHA đầu tư 2.709 tỷ đồng vào Đà Nẵng -
Sản xuất điện sụt giảm ảnh hưởng đến tăng trưởng GRDP 9 tháng của Gia Lai -
[Emagazine] Hà Nội khởi công, khánh thành 18 dự án tiêu biểu kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô -
Đồng Tháp tìm động lực tăng trưởng từ kinh tế thể thao -
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự Lễ khởi công Dự án đầu tư xây dựng và cải thiện môi trường nước hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải
![]() |
| Thu hút FDI giai đoạn mới hướng tới chất lượng, công nghệ cao và tăng liên kết với doanh nghiệp trong nước |
Xuất khẩu lớn nhưng tự chủ chưa cao
“Bước vào giai đoạn phát triển mới, chúng ta không đặt vấn đề thu hút được bao nhiêu FDI và xuất khẩu tăng được bao nhiêu, mà phải đặt câu hỏi FDI đã và đang tạo thêm bao nhiêu giá trị thực chất cho nền kinh tế”.
TS. Nguyễn Như Quỳnh, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (NIEF), Bộ Tài chính, đưa ra quan điểm này khi bàn về định hướng thu hút FDI tại Hội thảo “Hoàn thiện chính sách pháp luật về quản lý, thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới” do Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính tổ chức cuối tuần qua.
Việt Nam tiếp tục là điểm đến tích cực của dòng vốn quốc tế. Theo Cục Thống kê, tính đến ngày 30/9/2026, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm trước.
Việt Nam vẫn cần thu hút một lượng vốn FDI lớn phục vụ phát triển, nhưng chất lượng phải cao hơn. Chính sách cần chuyển từ ‘thu hút thêm’ sang ‘chọn đúng’, triển khai nhanh, lan tỏa tốt, giảm phát thải. Nhu cầu vốn FDI theo kịch bản mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 43,4 tỷ USD/năm.
- TS. Nguyễn Như Quỳnh, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (NIEF), Bộ Tài chính
Vốn FDI thực hiện đạt hơn 21 tỷ USD, tăng 12,1% và là mức cao nhất trong 5 năm qua.
Dòng vốn FDI vẫn tiếp tục lựa chọn Việt Nam, song thách thức hiện nay là làm thế nào để định hướng dòng vốn vào những lĩnh vực mà nền kinh tế đang cần, đồng thời tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn cho khu vực doanh nghiệp trong nước.
Theo TS. Nguyễn Như Quỳnh, sau hơn 40 năm thu hút FDI, dòng vốn này đã góp phần mở rộng năng lực sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu và đưa Việt Nam tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Tuy nhiên, mức độ phụ thuộc vào khu vực FDI ngày càng lớn. Năm 2015, xuất khẩu của khu vực FDI đạt 110,56 tỷ USD.
Sau 10 năm, con số này tăng lên 368,8 tỷ USD, gấp 3,34 lần. Trong khi đó, nhập khẩu của khu vực FDI cũng tăng từ 97,23 tỷ USD lên 317,63 tỷ USD.
Đến hết tháng 9/2026, khu vực FDI chiếm hơn 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, với 350,41 tỷ USD. Khu vực này cũng chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu nhiều nhóm hàng chủ lực: máy tính đạt 99,7%; điện thoại đạt 99%; máy móc, thiết bị đạt 94,4%.
“Vị thế sản xuất và xuất khẩu lớn của Việt Nam có được chưa hoàn toàn đồng nghĩa với năng lực thuộc về doanh nghiệp Việt Nam. Kim ngạch lớn nhưng giá trị tạo ra tại Việt Nam chưa tương xứng”, ông Quỳnh nhận định.
Theo các chuyên gia dự hội thảo, sự phụ thuộc lớn vào khu vực FDI cũng đặt ra những rủi ro nhất định. Chẳng hạn, Samsung đang chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu điện tử của Việt Nam. Khi tập đoàn này điều chỉnh danh mục sản phẩm hoặc phân bổ lại hoạt động sản xuất giữa các quốc gia, tác động có thể nhanh chóng lan tới chuỗi cung ứng tại Việt Nam, ảnh hưởng đến xuất khẩu và việc làm.
Do đó, thu hút FDI trong thời gian tới cần gắn chặt với các cam kết về mở rộng thị trường xuất khẩu, xanh hóa chuỗi sản xuất và phát triển hệ thống nhà cung ứng trong nước.
Tăng xuất khẩu, giảm rủi ro thị trường
Dữ liệu thống kê cho thấy, xuất khẩu của Việt Nam tăng mạnh, nhưng mức độ tập trung thị trường vẫn cao.
Năm thị trường và khu vực thị trường lớn gồm Mỹ, Trung Quốc, EU, Hàn Quốc và Nhật Bản hiện chiếm khoảng 70% tổng kim ngạch xuất khẩu.
“Chỉ cần một thị trường lớn như Mỹ có sự thay đổi về thuế quan, điều chỉnh kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn là chuỗi sản xuất, cung ứng trong nước khó ‘trở tay’”, TS. Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương) bày tỏ lo ngại.
Theo ông Cương, Việt Nam đang dẫn đầu ASEAN về tỷ lệ thu hút FDI/GDP. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào quy mô dòng vốn, sẽ dễ dẫn đến tâm lý thỏa mãn với những kết quả đã đạt được và nguy cơ mắc kẹt trong “bẫy gia công, lắp ráp”. Bởi Việt Nam đứng cuối ASEAN-5 về giá trị gia tăng nội địa trong xuất khẩu.
Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng nâng cao yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật và phát triển bền vững, các dự án FDI vào Việt Nam thời gian tới cần đáp ứng những yêu cầu khắt khe này.
Cùng với đó, FDI phải tạo được sức lan tỏa tới khu vực doanh nghiệp trong nước, giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng tỷ lệ nội địa hóa và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, qua đó tạo điều kiện cho chuyển giao công nghệ.
Ông Cương nhấn mạnh, vai trò của Nhà nước cũng cần được thể hiện rõ hơn trong kiến tạo chính sách và quản trị chuỗi cung ứng. Cơ quan quản lý cần có khả năng theo dõi, đánh giá hoạt động của các chuỗi sản xuất tại Việt Nam, từ đó kịp thời nhận diện rủi ro và
có chính sách phù hợp.
Một chỉ dấu tích cực là thời gian gần đây, Việt Nam đã thu hút được một số dự án FDI trong lĩnh vực sản xuất đáp ứng định hướng phát triển xanh và bền vững.
Điển hình là dự án nhà máy của Tập đoàn Lego tại Khu công nghiệp VSIP III, khu vực Bình Dương, nay thuộc TP.HCM, với vốn đầu tư 1 tỷ USD.
Nhà máy chính thức khánh thành vào tháng 4/2025.
Theo Tập đoàn Lego, tại thời điểm khánh thành, Lego Manufacturing Vietnam là nhà máy có mức độ bền vững về môi trường cao nhất của tập đoàn, với mục tiêu vận hành bằng 100% năng lượng tái tạo.
Đây là một trong những dự án cho thấy xu hướng thu hút FDI đang từng bước chuyển từ ưu tiên quy mô vốn sang chú trọng hơn đến công nghệ, môi trường và tính bền vững của hoạt động sản xuất.
Thực hiện cam kết đến đâu, ưu đãi đến đó
Việt Nam hiện đã thu hút nhà đầu tư từ hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, gần 80% vốn FDI vẫn đến từ các nền kinh tế châu Á như Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc và Hồng Kông, trong khi tỷ trọng vốn từ các quốc gia có thế mạnh về công nghệ vẫn chưa cao.
Dòng vốn FDI cũng tiếp tục tập trung tại những địa phương có tốc độ tăng trưởng cao, hạ tầng phát triển, trong khi nhiều địa phương khác vẫn gặp khó khăn trong thu hút đầu tư.
Trong bối cảnh đó, cách tiếp cận thu hút FDI trong giai đoạn tới cần có sự thay đổi căn bản. Nghị quyết 10-NQ/TW, ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã xác định rõ định hướng lựa chọn dòng vốn: không quá chú trọng số lượng mà ưu tiên chất lượng; hạn chế các dự án thâm dụng lao động, gia công; ưu tiên công nghệ cao, chuyển đổi xanh và gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh quốc gia.
Theo bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), trong quá trình thể chế hóa Nghị quyết 10-NQ/TW, Thủ tướng đã chỉ đạo Bộ Tài chính thực hiện vai trò điều phối ở cấp quốc gia. Theo đó, các khu vực lõi sẽ ưu tiên thu hút những dự án có công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng lớn. Các dự án có hàm lượng công nghệ thấp hơn sẽ được định hướng vào những khu vực phù hợp, trong đó có các vùng ven và địa bàn còn nhiều dư địa phát triển.
“Cách tiếp cận này nhằm phân bổ dòng vốn FDI hợp lý hơn, tạo động lực phát triển cho nhiều địa phương và tăng tính lan tỏa của khu vực FDI. Đồng thời, tư tưởng này cũng được thể chế hóa trong Luật Đầu tư sửa đổi”, bà Thủy cho biết.
Hiện nay, theo bà Thủy, Việt Nam đang thực hiện việc đàm phán với một nhà đầu tư nước ngoài có dự án quy mô lớn và đưa các điều kiện cụ thể vào gói ưu đãi. Theo đó, nhà đầu tư này được hưởng các chính sách hỗ trợ về thuế và chi phí điện, nhưng đồng thời phải thực hiện các cam kết về chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực. Cụ thể, nhà đầu tư này được yêu cầu chuyển giao khoảng 20 công nghệ thuộc những lĩnh vực mà doanh nghiệp Việt Nam có khả năng tiếp nhận, đồng thời tham gia đào tạo nguồn nhân lực cho Việt Nam.
Bà Thủy nhấn mạnh, cách tiếp cận này sẽ được triển khai thông qua các gói đàm phán cụ thể, trong đó mỗi gói ưu đãi sẽ đi kèm những điều kiện và cam kết tương ứng của nhà đầu tư. Tinh thần chung là thực hiện cam kết đến đâu thì hưởng ưu đãi đến đó. Cách làm này nhằm bảo đảm chính sách ưu đãi đầu tư thực sự tạo ra giá trị cho nền kinh tế, thay vì chỉ dựa trên quy mô vốn đăng ký.
-
Đắk Lắk đặt mục tiêu hút 12 tỷ USD FDI; WHA đầu tư 2.709 tỷ đồng vào Đà Nẵng -
Sản xuất điện sụt giảm ảnh hưởng đến tăng trưởng GRDP 9 tháng của Gia Lai -
[Emagazine] Hà Nội khởi công, khánh thành 18 dự án tiêu biểu kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô -
Đồng Tháp tìm động lực tăng trưởng từ kinh tế thể thao
-
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự Lễ khởi công Dự án đầu tư xây dựng và cải thiện môi trường nước hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải -
Sun Group muốn tài trợ lập quy hoạch chi tiết 2 sân bay: Vân Phong và Măng Đen -
TP.HCM thúc tiến độ cải tạo rạch Thủ Đức sau đợt ngập sâu đầu tháng 10 -
Đường 646 tỷ đồng ở Đà Nẵng đối mặt nguy cơ chậm tiến độ lần thứ ba -
Vốn FDI thực hiện tại Đà Nẵng tăng cao, vượt hơn 9.300 tỷ đồng -
Triển khai chính sách đặc thù để gỡ vướng các dự án phục vụ APEC 2027 tại Phú Quốc -
Hà Nội: Đề xuất bãi bỏ quyết định phê duyệt Nhiệm vụ điều chỉnh Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng
-
Nutifood hợp tác Bệnh viện - Y học cổ truyền TP.HCM phát triển giải pháp dinh dưỡng từ dược liệu Việt -
Japfa Việt Nam được vinh danh Top 1 Doanh nghiệp được yêu thích ngành Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Thủy sản -
AEON Việt Nam mở rộng, tạo thêm việc làm và phát triển nhân lực địa phương -
Quảng Trị thành lập Fanpage “Cổng Thông tin điện tử Quảng Trị” phục vụ người dân, doanh nghiệp trên môi trường số -
Kao Việt Nam kỷ niệm 30 năm hoạt động, ra mắt Chương trình “Tăng cường chăm sóc y tế” -
KORO Paper đầu tư công nghệ Valmet, nâng cao năng lực cạnh tranh trong ngành giấy tissue

