Thứ Hai, Ngày 12 tháng 10 năm 2026,
Khai thác, quản trị và bảo vệ không gian tầm thấp: “Mỏ vàng” mới cho doanh nghiệp
Tú Ân - 12/10/2026 08:08
 
Kết luận số 99-KL/TW của Bộ Chính trị mở ra không gian phát triển mới cho doanh nghiệp Việt, từ sản xuất UAV, thiết bị giám sát, đến logistics, nông nghiệp chính xác và khai thác dữ liệu...
8-kktt2-htuan
"Kinh tế tầm thấp" được xác định là không gian phát triển mới của đất nước

Mở rộng đáng kể không gian cho doanh nghiệp

Tại Kết luận số 99-KL/TW ngày 28/9/2026 về khai thác, quản trị và bảo vệ không gian tầm thấp phục vụ phát triển đất nước trong tình hình mới (Kết luận số 99), Bộ Chính trị xác định đây là “tài nguyên quốc gia, không gian phát triển mới của đất nước và không gian chủ quyền đặc biệt”.

Kết luận số 99 đặt lĩnh vực này vào tổng thể chiến lược phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển nhân lực và bảo vệ Tổ quốc. Các mục tiêu được đặt ra khá cụ thể: đến năm 2030, Việt Nam sẽ đưa vào vận hành 3 khu thử nghiệm bay cấp quốc gia và ít nhất 1 trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia về phương tiện bay không người lái (UAV).

Đến năm 2045, kinh tế không gian tầm thấp được định hướng trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, đóng góp khoảng 1,5% GDP quốc gia. Cùng với đó, tỷ lệ nội địa hóa các dòng UAV chủ lực phục vụ sản xuất phấn đấu đạt 30-40% vào năm 2030 và trên 85% vào năm 2045.

Một thay đổi đáng chú ý khác là cách thức quản trị. Hoạt động UAV sẽ được quản lý theo toàn bộ vòng đời, từ đăng ký, định danh, cấp phép, điều hành, giám sát đến kiểm tra và xử lý vi phạm. Các khu vực bay thử nghiệm, hạn chế và cấm bay phải được xác định rõ; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hạ tầng, thiết bị và công nghệ quản lý được đặt mục tiêu hoàn thiện trong năm 2027.

Đặc biệt, Kết luận số 99 mở rộng đáng kể không gian cho doanh nghiệp khi định hướng phát triển công nghiệp tầm thấp theo hướng lưỡng dụng, từng bước làm chủ công nghệ lõi. Đồng thời xây dựng chính sách hỗ trợ, ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai cho doanh nghiệp nghiên cứu, sản xuất, thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm, dịch vụ UAV.

Doanh nghiệp được xác định là trung tâm của nghiên cứu, phát triển, sản xuất và thương mại hóa; Nhà nước có vai trò định hướng, dẫn dắt thị trường ban đầu thông qua đặt hàng, thí điểm và ứng dụng trong khu vực công.

trang8.jpg

Khi không gian tầm thấp chạm tới nền kinh tế thực

Theo báo cáo năm 2026 của Diễn đàn Kinh tế thế giới, các ứng dụng quan sát trái đất hiện đóng góp khoảng 440 tỷ USD cho GDP toàn cầu mỗi năm, trong khi còn khoảng 263 tỷ USD giá trị tiềm năng có thể khai thác thêm nếu cải thiện khâu thu nhận, xử lý và đưa dữ liệu vào thực tế.

Riêng thị trường UAV toàn cầu được MarketsandMarkets dự báo tăng từ 26,12 tỷ USD năm 2025 lên 40,56 tỷ USD năm 2030, tương đương tốc độ tăng trưởng kép 9,2%/năm.

PGS-TS. Trương Ninh Thuận, Viện trưởng Viện Công nghệ Hàng không - Vũ trụ (Trường đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, sự phát triển của AI, công nghệ số, UAV thế hệ mới và dữ liệu vệ tinh đang tạo ra hội tụ giữa không gian, trên không và mặt đất.

Theo ông Thuận, thay vì phải trực tiếp đưa thiết bị lên không gian với chi phí và yêu cầu công nghệ rất cao, doanh nghiệp có thể khai thác dữ liệu vệ tinh mở thông qua API, kết hợp AI và công nghệ số để tạo ra các sản phẩm giá trị gia tăng.

Nông nghiệp là thị trường đang chứng minh rõ nhất khả năng thương mại hóa. Ông Phạm Đắc Bảo, Giám đốc VNPT UAV Lab cho hay, tại Đồng bằng sông Cửu Long, năm 2026 ước tính có khoảng 10.000 UAV nông nghiệp đang hoạt động. Riêng tại Cần Thơ, hơn 4.000 ha lúa được phun bằng thiết bị bay, giúp giảm công lao động, hạn chế tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Nhưng từ phun thuốc đến nông nghiệp chính xác vẫn còn một khoảng cách lớn. Phía sau mỗi chuyến bay sẽ là nhu cầu về bản đồ số, cảm biến, AI nhận diện hình ảnh, phân tích dữ liệu, dự báo sâu bệnh và tối ưu hóa sản xuất.

Ở góc độ khác, logistics cũng đang mở một hướng đi tương tự. Ông Nguyễn Kim Thuần, Phó giám đốc Trung tâm Công nghệ Viettel Post cho rằng, các ứng dụng UAV tại Việt Nam hiện tập trung vào 4 nhóm lớn: quốc phòng - an ninh; nông nghiệp; giám sát hạ tầng; logistics. Trong đó, logistics được dự báo là một lĩnh vực tăng trưởng nhanh, với quy mô thị trường toàn cầu có thể vượt 16 tỷ USD vào năm 2030.

Điều đáng chú ý là thị trường Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện những bài toán đủ cụ thể để doanh nghiệp đầu tư. Tại Điện Biên, sau hơn một tháng thử nghiệm, 118 chuyến bay vận chuyển cà phê, tải trọng 50 kg/chuyến, đã được thực hiện tại xã Mường Ảng. Từ các thử nghiệm ban đầu, doanh nghiệp đã đề xuất 3 dự án thành phần với tổng vốn dự kiến gần 200 tỷ đồng, gồm trung tâm thử nghiệm và thực hành bay UAV, nhà máy sản xuất UAV và trung tâm giới thiệu, đào tạo công nghệ UAV, hàng không và vũ trụ.

Trong khi đó, MobiFone đang xây dựng thị trường “ngược” của UAV: công nghệ quản lý và bảo vệ không phận tầm thấp. Sau gần một năm nghiên cứu và phát triển (R&D), doanh nghiệp đã hoàn thành nguyên mẫu radar có khả năng quản lý độ cao bay dưới 1.000 m, tầm phát hiện dự kiến 5 km và bám bắt đồng thời 200 mục tiêu. Sản phẩm đang được đo kiểm thực địa để tiến tới thương mại hóa.

Còn trong lĩnh vực đất đai, VNPT sử dụng viễn thám và UAV để bay chụp các khu vực chưa có dữ liệu không gian, hỗ trợ địa phương đối chiếu hình thể thửa đất với hồ sơ địa chính. Hệ thống VNPT iLIS hiện được triển khai tại ít nhất 15 tỉnh, thành phố.

Vượt chướng ngại thị trường và hành lang pháp lý

Cơ hội đã mở, nhưng để doanh nghiệp thực sự cất cánh, vẫn cần một “đường băng” đủ dài. Trước tiên là hành lang pháp lý.

Ông Đặng Hải Long, Giám đốc Dự án Ứng dụng UAV của Vietnam Post chia sẻ, doanh nghiệp đã triển khai các dự án vận chuyển y tế, hàng hóa, thư từ và nông sản bằng UAV. Tuy nhiên, quá trình mở rộng gặp khó do thủ tục hiệp đồng bay tại đô thị còn phụ thuộc vào lịch trình của các đơn vị quốc phòng, công an; trong khi thiếu nền tảng quản lý vùng trời (UTM) chuyên biệt để cấp phép bay theo thời gian thực.

Với vận chuyển y tế, khoảng trống còn rõ hơn khi các quy định hiện hành chưa cập nhật đầy đủ loại hình vận chuyển bằng UAV. Điều này khiến một mô hình có tiềm năng rút ngắn thời gian vận chuyển mẫu máu, bệnh phẩm hay vật tư y tế vẫn chưa thể vận hành như một dịch vụ logistics thông thường.

Do đó, doanh nghiệp cần sớm có quy chuẩn kỹ thuật, quy trình cấp phép và cơ chế điều phối bay thống nhất, đặc biệt là hệ thống quản lý vùng trời tầm thấp theo thời gian thực.

Dưới góc độ đầu ra, TS. Lê Xuân Huy, Phó tổng giám đốc Trung tâm Vũ trụ Việt Nam nhấn mạnh, với các sản phẩm công nghệ như UAV và công nghệ vũ trụ, điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư là phải có thị trường.

Theo ông Huy, chủ trương Nhà nước đặt hàng sản phẩm công nghệ do doanh nghiệp trong nước nghiên cứu, chế tạo cần được cụ thể hóa bằng các công cụ như đặt hàng trực tiếp, ưu tiên trong mua sắm công hoặc quy định tỷ lệ nội địa hóa trong các dự án đầu tư công có sử dụng thiết bị bay.

Một doanh nghiệp có thể chấp nhận đầu tư hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ đồng cho R&D nếu nhìn thấy thị trường trong 5-10 năm. Ngược lại, rất khó yêu cầu doanh nghiệp làm chủ công nghệ lõi nếu sản phẩm sau khi hoàn thành vẫn chưa có khách hàng đầu tiên.

Vì vậy, Nhà nước cần trở thành khách hàng đầu tiên của một số sản phẩm chiến lược, đặc biệt trong các lĩnh vực bản đồ số, giám sát hạ tầng, quản lý rừng, phòng, chống thiên tai, cứu hộ, y tế, logistics và an ninh.

Cùng với đó là chính sách thuế, tín dụng, đất đai và hỗ trợ R&D như Kết luận số 99 đã định hướng. Những điều này cần được cụ thể hóa thành các chương trình đủ rõ để doanh nghiệp có thể tính toán bài toán đầu tư, thay vì chỉ dừng ở chủ trương.

Một vấn đề khác là Việt Nam phải xác định mình sẽ đứng ở đâu trong chuỗi giá trị này. Theo GS-TS. Hoàng Văn Cường, Phó chủ tịch Hội Khoa học kinh tế Việt Nam, chúng ta không nhất thiết phải sản xuất tất cả các chi tiết của UAV hay thiết bị không gian. Điều quan trọng là lựa chọn đúng công nghệ, đúng khâu để tập trung nguồn lực. “Phần mềm, hệ thống điều khiển và trí tuệ” có thể là những phần Việt Nam có khả năng làm chủ và tạo giá trị cao. Đây cũng là cách để doanh nghiệp Việt tránh rơi vào cuộc cạnh tranh thuần túy về phần cứng và giá thành.

Kinh tế tầm thấp có lợi thế riêng: không nhất thiết phải bắt đầu bằng những dự án vũ trụ có vốn đầu tư khổng lồ. Doanh nghiệp có thể bắt đầu từ một cánh đồng, một tuyến logistics, một khu rừng, một công trình, một bệnh viện hay một khu vực thường xuyên chịu thiên tai.

“Chiến lược phát triển lĩnh vực này phải đồng thời có hai cấu phần: chiến lược công nghệ và chiến lược kinh tế. Công nghệ phải xác định Việt Nam làm chủ cái gì; chiến lược kinh tế phải trả lời sản phẩm đó bán cho ai, doanh nghiệp nào được tham gia và nguồn lực nào hỗ trợ phát triển”, ông Cường nói.

Đà Nẵng xây dựng Đề án Thí điểm phát triển kinh tế không gian tầm thấp đến năm 2030
Đà Nẵng sẽ nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách, giải pháp thuộc thẩm quyền của thành phố và kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét,...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư