Thứ Năm, Ngày 15 tháng 10 năm 2026,
Mở đường cho doanh nghiệp Việt vào chuỗi cung ứng FDI
Thế Hải - 15/10/2026 08:22
 
Rào cản khiến doanh nghiệp Việt Nam khó tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu không chỉ nằm ở năng lực sản xuất, mà còn ở mạng lưới nhà cung cấp đã được các tập đoàn đa quốc gia thiết lập từ trước, đòi hỏi những giải pháp kết nối và nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước.

Mạng lưới nhà cung cấp có sẵn là rào cản lớn

Tại Tọa đàm “Kết nối doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu” do Báo tài chính - Đầu tư tổ chức hôm 8/10, các chuyên gia và đại diện doanh nghiệp đã chỉ ra những rào cản khiến doanh nghiệp trong nước khó tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Theo bà Trương Thị Chí Bình, Phó chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI), doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước còn hạn chế về số lượng và năng lực đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn lớn. Trong khi đó, phần lớn tập đoàn đa quốc gia đã có mạng lưới nhà cung cấp ổn định trước khi đầu tư vào Việt Nam và ít có động lực thay đổi đối tác nếu doanh nghiệp nội địa chưa chứng minh được lợi thế về chất lượng, giá thành, tiến độ giao hàng.

Cơ hội tham gia chuỗi cung ứng còn phụ thuộc vào mục tiêu đầu tư của doanh nghiệp FDI. Với những tập đoàn đầu tư để phục vụ thị trường Việt Nam, nhu cầu nội địa hóa thường lớn hơn nhằm tối ưu chi phí vận chuyển, nhập khẩu và thời gian cung ứng.

Ngành xe máy là ví dụ điển hình. Theo bà Bình, thị trường đủ lớn, sản lượng sản xuất cao và nhu cầu cung ứng linh kiện tại chỗ là những yếu tố quan trọng thúc đẩy nội địa hóa.

Trang9
Các chuyên gia, đại diện doanh nghiệp chia sẻ giải pháp tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam với khu vực FDI

Ngược lại, các tập đoàn chọn Việt Nam làm cứ điểm xuất khẩu thường đã có chuỗi cung ứng toàn cầu. Với một số sản phẩm giá trị cao như điện thoại di động, máy tính, việc nhập khẩu linh kiện từ nhà cung cấp quốc tế để lắp ráp và xuất khẩu vẫn có thể bảo đảm hiệu quả kinh tế, khiến doanh nghiệp Việt khó tham gia, đặc biệt ở các công đoạn đòi hỏi công nghệ cao.

Với doanh nghiệp Việt Nam, trọng tâm là nâng cao năng suất, chất lượng và tự tích lũy năng lực sản xuất. Đối với Samsung, điều quan trọng là củng cố tính ổn định của chuỗi cung ứng và mở rộng nội địa hóa linh kiện. Hai định hướng này gặp nhau ở một điểm chung, đó là mô hình phát triển đồng thịnh vượng theo hướng win-win.

- Ông Cha Ji Ho, Phó tổng giám đốc phụ trách Trung tâm Mua hàng, Samsung Việt Nam

Việt Nam đã đón khoảng 570 tỷ USD vốn FDI trong 4 thập kỷ qua, hình thành năng lực sản xuất lớn và quy mô xuất khẩu gần 500 tỷ USD vào năm 2025 (dự kiến vượt 550 tỷ USD vào cuối năm nay). Nhưng Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương thừa nhận, liên kết giữa khu vực doanh nghiệp trong nước và khu vực FDI còn hạn chế, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển chưa đạt kỳ vọng. Tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu vẫn chưa cao.

Từ thực tế trên, bà Bình cho rằng, chính sách thu hút FDI cần quan tâm nhiều hơn đến mục tiêu đầu tư, đặc điểm ngành nghề và khả năng tạo liên kết với doanh nghiệp trong nước, thay vì chỉ chú trọng quy mô vốn hoặc giá trị xuất khẩu. Doanh nghiệp không nên đánh giá thấp vai trò của hoạt động lắp ráp và sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh, từng bước chuyển từ sản xuất linh kiện riêng lẻ sang sản xuất cụm linh kiện và sản xuất theo yêu cầu của khách hàng (OEM).

“Khi tham gia sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh, doanh nghiệp có điều kiện hiểu rõ hơn về cấu trúc sản phẩm, yêu cầu kỹ thuật, chi phí và hệ thống nhà cung ứng. Từ đó, họ có thể từng bước đưa các doanh nghiệp Việt Nam khác tham gia vào những khâu phù hợp”, bà Bình nói.

Cần hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện

Tổng giám đốc SGS Việt Nam, ông Jackson Woo khuyến nghị Việt Nam cần tận dụng FDI để nâng cao năng lực chuỗi cung ứng trong nước, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia sâu hơn vào mạng lưới toàn cầu.

“Doanh nghiệp Việt rất sẵn sàng học hỏi, lắng nghe và nắm bắt cơ hội, nhưng vấn đề đặt ra là nên ưu tiên nguồn lực đầu tư vào đâu, vào đất đai, công nghệ, nhân lực, nguyên vật liệu hay hệ thống quản lý chất lượng. Đó là lý do Chính phủ cần xác định một định hướng phát triển thật rõ ràng cho nền kinh tế trong 5-10 năm tới”, ông Jackson Woo nói.

Bên cạnh năng lực sản xuất, chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng quyết định khả năng tham gia và duy trì vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Sự phát triển nhanh của công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), đang khiến yêu cầu về kỹ năng và cơ cấu việc làm liên tục thay đổi.

Bà Nguyễn Thu Hà, Giám đốc tuyển dụng nhân sự cấp cao toàn quốc và phát triển kinh doanh tại Hà Nội của Talentnet cho rằng, trong bối cảnh chất lượng nguồn nhân lực gắn chặt với yêu cầu công nghệ cao, doanh nghiệp cần thích ứng nhanh hơn với những thay đổi này để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của chuỗi cung ứng.

Theo các chuyên gia, Việt Nam cần một hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện để doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, không chỉ giới hạn ở mạng lưới cung ứng hay nguồn nguyên vật liệu, mà bao gồm cả tài chính, phát triển nhân lực, chính sách của Chính phủ và các cơ chế ưu đãi về thuế, hải quan.

Chẳng hạn, để sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, doanh nghiệp cần nhập khẩu máy móc, thiết bị và công cụ kỹ thuật hiện đại. Khi đó, chính sách thuế và thủ tục hải quan sẽ tác động trực tiếp đến chi phí đầu tư, khả năng đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất.

Trong hệ sinh thái đó, các tiêu chuẩn quốc tế giúp doanh nghiệp tạo dựng uy tín với khách hàng toàn cầu, không chỉ bằng khả năng đáp ứng mà còn ở việc duy trì chất lượng và tuân thủ yêu cầu nhất quán.

Theo ông Jackson Woo, với vai trò là đơn vị hoạt động trong lĩnh vực thử nghiệm, giám định và chứng nhận (TIC), SGS có thể hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế thông qua đào tạo, thử nghiệm và chứng nhận, qua đó củng cố độ tin cậy và nâng cao khả năng trở thành nhà cung ứng.

“Hơn hết, cơ hội tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu không chỉ phụ thuộc vào số lượng dự án FDI được thu hút, mà còn nằm ở khả năng tạo dựng một hệ thống doanh nghiệp nội địa đáp ứng được yêu cầu của các nhà mua hàng quốc tế”, Tổng giám đốc SGS Việt Nam nhấn mạnh.

Khi lợi thế chi phí dần thu hẹp, đâu là dư địa cạnh tranh tiếp theo của doanh nghiệp Việt?
Trong nhiều thập kỷ, chi phí cạnh tranh, năng lực sản xuất và tốc độ thích ứng đã giúp doanh nghiệp Việt từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư