Thứ Năm, Ngày 08 tháng 10 năm 2026,
Thách thức của doanh nghiệp Việt khi gia nhập chuỗi cung ứng toàn cầu
N.Minh - 08/10/2026 16:15
 
Một trong những thách thức lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu không chỉ nằm ở năng lực sản xuất, mà còn ở khả năng cạnh tranh với các nhà cung cấp từ trước của các doanh nghiệp FDI.

Tại phiên thảo luận trong khuôn khổ Tọa đàm “Kết nối doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu” diễn ra ngày 8/10 tại Hà Nội, các chuyên gia và đại diện doanh nghiệp đã thẳng thắn chỉ ra những rào cản khiến doanh nghiệp Việt Nam vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia.

1791429888163_569274214285835538_g4621828025343539408_3614e55bcc9a18eba6dc5ba0d829fb2e.jpg
Các chuyên gia, diễn giả trong phiên thảo luận. Ảnh: Chí Cường

Một trong những thách thức lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu không chỉ nằm ở năng lực sản xuất, mà còn ở khả năng cạnh tranh với các nhà cung cấp đã có vị trí vững chắc trong hệ thống của các tập đoàn đa quốc gia. Bên cạnh đó, sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ cũng đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với chất lượng nguồn nhân lực.

Không dễ thay thế nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Theo bà Trương Thị Chí Bình, Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI), một thực tế cần nhìn nhận là doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam vẫn còn hạn chế cả về số lượng lẫn năng lực đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn lớn. Tuy nhiên, đây không phải nguyên nhân duy nhất khiến doanh nghiệp nội địa khó tham gia chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

1791430342133_2050390867500659840_g4621828025343539408_7da40aa057f8c273b942c7468d479f6b
Bà Trương Thị Chí Bình, Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI). Ảnh: Chí Cường

Bà Bình phân tích, phần lớn các tập đoàn đa quốc gia đã xây dựng được mạng lưới nhà cung cấp ổn định trước khi đầu tư vào Việt Nam. Do đó, không có nhiều động lực để họ thay đổi đối tác hiện hữu, trừ khi doanh nghiệp Việt Nam chứng minh được lợi thế vượt trội về chất lượng, giá thành, khả năng giao hàng hoặc những yếu tố cạnh tranh khác.

Trong khi đó, để đáp ứng được các tiêu chuẩn này, doanh nghiệp trong nước phải vượt qua nhiều rào cản về vốn, công nghệ và năng lực quản trị sản xuất.

Đáng chú ý, theo đại diện VASI, sự khác biệt về mục tiêu đầu tư của các doanh nghiệp FDI cũng quyết định đáng kể đến cơ hội tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp nội địa.

Với những tập đoàn đầu tư để phục vụ thị trường Việt Nam, nhu cầu nội địa hóa thường lớn hơn do phải tối ưu chi phí vận chuyển, nhập khẩu và thời gian cung ứng. Điển hình là ngành công nghiệp xe máy, nơi sự hiện diện của các nhà sản xuất Nhật Bản đã góp phần hình thành và phát triển mạng lưới doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước.

Theo bà Bình, quy mô thị trường đủ lớn, sản lượng sản xuất cao và nhu cầu cung ứng linh kiện tại chỗ là những yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình nội địa hóa trong ngành xe máy.

Ngược lại, với các tập đoàn lựa chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất hàng xuất khẩu, chuỗi cung ứng thường đã được tổ chức trên phạm vi toàn cầu. Đặc biệt, đối với những sản phẩm có giá trị cao như điện thoại di động, việc nhập khẩu linh kiện từ các nhà cung cấp quốc tế để lắp ráp và tái xuất khẩu vẫn có thể bảo đảm hiệu quả kinh tế. Điều này khiến cơ hội gia nhập chuỗi cung ứng của doanh nghiệp Việt Nam trở nên hạn chế hơn, nhất là đối với các linh kiện có hàm lượng công nghệ cao.

Từ thực tế trên, bà Bình cho rằng chính sách thu hút FDI cần quan tâm nhiều hơn đến mục tiêu đầu tư, đặc điểm ngành nghề và khả năng tạo ra liên kết với doanh nghiệp trong nước, thay vì chỉ chú trọng quy mô vốn hoặc giá trị xuất khẩu.

Một vấn đề khác được Phó Chủ tịch VASI nhấn mạnh là cần thay đổi cách nhìn nhận về vai trò của hoạt động lắp ráp và sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh trong chuỗi giá trị.

Theo bà Bình, việc cho rằng lắp ráp không tạo ra giá trị đáng kể là cách nhìn chưa đầy đủ. Duy trì được các cơ sở sản xuất, lắp ráp sản phẩm cuối cùng tại Việt Nam chính là một trong những điều kiện để từng bước hình thành mạng lưới cung ứng nội địa.

Khi doanh nghiệp đảm nhận khâu sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh, cơ hội phát triển hệ thống nhà cung cấp linh kiện, vật tư và dịch vụ hỗ trợ cũng được mở rộng hơn. 

Nguồn nhân lực phải thích ứng với tốc độ thay đổi công nghệ

Bên cạnh năng lực sản xuất, chất lượng nguồn nhân lực cũng là yếu tố quyết định khả năng tham gia và duy trì vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Ở góc độ thị trường lao động, bà Nguyễn Thu Hà, Giám đốc tuyển dụng nhân sự cấp cao toàn quốc và phát triển kinh doanh tại Hà Nội của Talentnet, cho rằng sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), đang khiến yêu cầu về kỹ năng và cơ cấu việc làm thay đổi liên tục.

1791431874607_2050390867500659840_g4621828025343539408_c531a92726b9c0fa2aa57207663fa19f
Bà Nguyễn Thu Hà, Giám đốc tuyển dụng nhân sự cấp cao toàn quốc và phát triển kinh doanh tại Hà Nội của Talentnet. Ảnh: Chí Cường

Những ngành nghề từng được đánh giá có nhu cầu nhân lực lớn, chẳng hạn công nghệ thông tin, cũng đang chịu tác động từ làn sóng công nghệ mới. Điều này đặt ra thách thức đối với cả người lao động, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo trong việc dự báo nhu cầu nhân lực tương lai.

Theo bà Hà, rất khó xác định chính xác công nghệ sẽ phát triển theo hướng nào và những ngành nghề nào sẽ có nhu cầu nhân lực lớn trong những năm tới. Chẳng hạn, nếu các trung tâm dữ liệu được đầu tư phát triển mạnh tại Việt Nam, nhu cầu nhân lực và dịch vụ trong những lĩnh vực liên quan như hệ thống điện, công nghệ làm mát và hạ tầng kỹ thuật có thể gia tăng. Tuy nhiên, sự xuất hiện của những cơ hội mới cũng đồng thời đòi hỏi người lao động liên tục cập nhật kiến thức và kỹ năng.

Một trong những vấn đề cần ưu tiên là tăng cường sự gắn kết giữa hệ thống giáo dục và cộng đồng doanh nghiệp. Bên cạnh chuyên môn kỹ thuật, năng lực ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, cũng cần được chú trọng.

Ngoài ra, bà Hà nhấn mạnh vai trò của các chính sách thúc đẩy chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp Việt Nam. Nếu quá trình này được hỗ trợ hiệu quả, nguồn nhân lực trong nước sẽ có thêm điều kiện tiếp cận công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ chuyên môn và khả năng thích ứng trước những thay đổi của thị trường.

Theo đại diện Talentnet, người lao động Việt Nam có lợi thế về sự nhanh nhạy và khả năng thích ứng. Tuy nhiên, để biến những lợi thế này thành năng lực cạnh tranh dài hạn, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo và cộng đồng doanh nghiệp.

Doanh nghiệp FDI đã cởi mở hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu
Lãnh đạo Cục Đầu tư nước ngoài cho biết, các tập đoàn FDI đã cởi mở hơn rất nhiều. Họ chủ động tìm kiếm sự phối hợp với Chính phủ...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư