Thứ Bảy, Ngày 25 tháng 07 năm 2026,
Con đường ngắn nhất để hàng Việt vượt rào cản thương mại
Thế Hải - 25/07/2026 11:33
 
Gia tăng hàm lượng giá trị sản xuất tại Việt Nam là con đường ngắn nhất để hàng Việt chắc chân tại nhiều thị trường, giảm thiểu tối đa các cuộc điều tra phòng vệ thương mại, đồng thời ứng phó hiệu quả trước những biến động toàn cầu.
Dệt may là một trong những ngành hàng có tỷ lệ nội địa hóa cao nhất. Trong ảnh: Sản xuất tại Công ty CP Quốc tế Phong Phú (Ảnh: Lê Toàn)
Dệt may là một trong những ngành hàng có tỷ lệ nội địa hóa cao nhất. Trong ảnh: Sản xuất tại Công ty CP Quốc tế Phong Phú (Ảnh: Lê Toàn)

Giữ nhiều giá trị hơn trong mỗi đơn hàng xuất khẩu

Con số 10 tỷ USD là mức xuất siêu mà nhóm hàng dệt may thu về trong nửa đầu năm 2026. So với nhiều năm trước, xuất siêu đã cải thiện mạnh mẽ, ghi nhận hành trình gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, tăng giá trị sản xuất tại Việt Nam, thay vì chỉ tập trung vào công đoạn gia công (CM).

Kết quả xuất siêu này cũng trùng khớp với báo cáo cuối năm ngoái của Ban Chính sách và Chiến lược Trung ương, khi cho rằng, trong các ngành hàng đóng góp lớn cho xuất khẩu, dệt may là một trong những ngành có tỷ lệ nội địa hóa cao nhất, đạt 45-48%, trong khi ngành điện tử chỉ khoảng 15-18%... Giá trị gia tăng của dệt may cũng thuộc nhóm cao nhất trong các ngành chế biến, chế tạo.

Còn trong năm ngoái, xuất khẩu tăng trưởng 6,3%, với kim ngạch 46 tỷ USD; xuất siêu toàn ngành dệt may đạt 21 tỷ USD, tiếp tục là ngành đóng góp lớn vào cán cân thương mại quốc gia, đồng thời đánh dấu bước tiến đáng kể trong việc chủ động nguồn nguyên phụ liệu.

Bộ Công thương khuyến khích doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu nội địa hoặc từ các nguồn hợp lệ để đáp ứng tiêu chí xuất xứ và tránh các biện pháp phòng vệ thương mại hay trả đũa trong thương mại xuyên biên giới. Bên cạnh đó, doanh nghiệp tăng cường tự kiểm tra, xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm tránh rủi ro vi phạm quy định về xuất xứ.

"Có được kết quả này là nhờ quá trình cải thiện nhanh và tương đối lớn về quy mô, nâng tỷ lệ nội địa hóa. Nếu xét trong top 5 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới thì mức độ chủ động nguồn nguyên vật liệu của dệt may Việt Nam đứng thứ 3, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ", ông Lê Tiến Trường, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), kiêm Phó chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) cho biết.

Tương tự, thủy sản cũng là ngành có mức cải thiện hàm lượng giá trị nội địa thuộc nhóm cao trong số các ngành xuất khẩu quy mô trên chục tỷ USD.

“Theo ước tính của chúng tôi, trong 10 USD kim ngạch xuất khẩu thủy sản thì có tới 8 USD là giá trị do người Việt Nam tạo ra, từ nuôi trồng, khai thác, chế biến đến logistics và các dịch vụ liên quan”, ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), thông tin.

Sự cải thiện về hàm lượng giá trị nội địa của hai ngành xuất khẩu lớn kể trên cho thấy đã phần nào giảm được sự phụ thuộc vào nguyên liệu từ nước ngoài, giảm tỷ trọng đơn hàng gia công, tiến tới nhận những đơn hàng có hàm lượng cung ứng nguyên liệu tại chỗ cao hơn.

Khi chủ động được đầu vào cũng đồng nghĩa các nhóm hàng xuất khẩu có thêm cơ hội được hưởng ưu đãi thuế quan theo các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam là thành viên.

Xuất xứ hàng hóa trong các FTA luôn là nội dung phức tạp, "cân não" nhất của đoàn đàm phán trong mỗi FTA. Bà Trịnh Thị Thu Hiền, Phó cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) cho biết: "Xuất xứ hàng hóa đóng vai trò quan trọng, không chỉ đơn thuần là việc xác định quốc gia, nơi sản xuất hàng hóa, mà còn là điều kiện cần thiết để các mặt hàng được hưởng ưu đãi thuế quan, qua đó gia tăng năng lực cạnh tranh và duy trì vị thế tại nhiều thị trường".

Quy định về quy tắc xuất xứ còn là động lực thúc đẩy đầu tư nhằm tăng tỷ lệ sản xuất trong nước, giúp chứng minh rõ nguồn gốc xuất xứ, hạn chế nguy cơ bị cáo buộc lẩn tránh thuế hoặc gian lận xuất xứ.

Gia tăng "sức đề kháng" cho hàng Việt

Việt Nam đã và đang chuyển mình từ một trung tâm sản xuất chi phí thấp thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Việc tăng hàm lượng giá trị sản xuất tại Việt Nam là điều kiện tất yếu để khắc phục điểm yếu “chí mạng” là thâm dụng gia công.

Nếu không có gì thay đổi, kim ngạch xuất khẩu sẽ cán mốc 540-550 tỷ USD vào cuối năm nay; trong đó, xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn như Mỹ, EU, ASEAN... tiếp tục chinh phục các mốc mới. Song đi kèm với quy mô xuất khẩu tăng nhanh thì rủi ro trong việc chứng minh nguồn gốc các lô hàng xuất khẩu cũng tăng tương ứng. Đặc biệt, tại những thị trường có sức tiêu dùng lớn như Mỹ và EU, hàng Việt bị "soi" nhiều về xuất xứ.

Bà Virginia Foote, Phó chủ tịch Hiệp hội Thương mại Mỹ tại Việt Nam (AmCham) khẳng định, Việt Nam đã trở thành địa chỉ cung ứng hàng hóa quan trọng cho Mỹ, từ hàng điện tử, dệt may, giày dép đến nông, lâm, thủy sản. Dù vậy, đại diện AmCham cũng lưu ý các nhà cung ứng Việt Nam cần dành sự quan tâm lớn hơn đến việc tuân thủ quy tắc xuất xứ cũng như kiểm soát xuất xứ hàng hóa đối với hàng xuất khẩu.

Đảm bảo quy tắc xuất xứ không đơn thuần để hưởng ưu đãi thuế quan ở mức cao nhất, mà còn là yếu tố tạo dựng lòng tin với đối tác quốc tế, qua đó nâng cao vị thế của hàng xuất khẩu, giúp gia tăng "sức đề kháng" cho hàng Việt.

TS. Lê Duy Bình, chuyên gia kinh tế, Giám đốc Economica Việt Nam nhận định, năng lực sản xuất của ngành chế biến, chế tạo đang tiếp tục được củng cố, kéo theo nhu cầu ngày càng lớn về linh kiện, nguyên vật liệu và các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Đây cũng là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp xuất khẩu. Khi chủ động sản xuất được các đầu vào trong nước, giá trị gia tăng sẽ được giữ lại nhiều hơn, thay vì chảy ra nước ngoài thông qua nhập khẩu.

Về dài hạn, theo ông Bình, Việt Nam cần tiếp tục nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu, tăng tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa, phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, ưu tiên sản xuất linh kiện, phụ tùng và nguyên vật liệu trong nước để giảm phụ thuộc vào nhập khẩu. Đồng thời, doanh nghiệp cần kiểm soát chặt xuất xứ hàng hóa, xây dựng đầy đủ hồ sơ về nguyên phụ liệu để sẵn sàng chứng minh khi thị trường nhập khẩu yêu cầu.

“Phụ thuộc quá lớn vào nguồn cung đầu vào từ bên ngoài sẽ khiến sản xuất trong nước dễ bị tổn thương trước những biến động của thương mại toàn cầu, đồng thời làm giảm giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu”, ông Bình nhấn mạnh.

Điện tử là ví dụ điển hình. Dù là ngành công nghiệp mũi nhọn, đóng góp khoảng 95% kim ngạch xuất khẩu từ khu vực FDI, ngành này vẫn phụ thuộc lớn vào linh kiện nhập khẩu để lắp ráp. Theo thống kê của Cục Hải quan (Bộ Tài chính), nhập khẩu của khu vực FDI tiếp tục tăng mạnh trong nửa đầu năm 2026. Riêng tháng 6, khối này nhập khẩu 39,23 tỷ USD, tăng 50,4% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 6 tháng đạt 204,7 tỷ USD, tăng 37,3% và là mức cao nhất từ trước đến nay. Riêng nhóm điện tử, máy tính và linh kiện, kim ngạch nhập khẩu của doanh nghiệp FDI lên tới 107 tỷ USD.

Với mục tiêu nâng cao năng lực sản xuất trong nước, tăng tỷ lệ nội địa hóa và thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 929/QĐ-TTg, Phê duyệt Chương trình Phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035. Đích ngắm là phát triển công nghiệp hỗ trợ theo chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu, lấy yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và tỷ lệ nội địa hóa của các doanh nghiệp dẫn dắt làm định hướng cho hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp.

Theo đó, các ngành điện tử thông minh, thiết bị năng lượng, đường sắt, ô tô, cơ khí và tự động hóa, công nghiệp công nghệ cao, dệt may và da giày gắn với kinh tế xanh sẽ là trọng tâm ưu tiên đầu tư.

Đức phản đối các rào cản thương mại khi EU chuẩn bị áp thuế xe điện
Thủ tướng Đức Olaf Scholz đã lên tiếng phản đối việc hạn chế thương mại ô tô khi Liên minh châu Âu tiến gần hơn đến việc áp thuế đối...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư