-
Đà Nẵng khởi công 2 dự án hạ tầng trọng điểm gần 4.293 tỷ đồng -
Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú gặp Chủ tịch Đảng Hành động Nhân dân Singapore -
Tăng cường hợp tác Việt Nam - Singapore trên các kênh -
VLP 2026: Trao đổi chính sách, thúc đẩy mô hình phát triển mới của Việt Nam -
Đồng hành gỡ khó, đồng hành kiến tạo
Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển đang đặt Việt Nam vào một quỹ đạo phát triển mới, với những đích đến cao hơn về tăng trưởng, năng suất, công nghệ và năng lực cạnh tranh. Nhưng nhiều lợi thế đang tới hạn khiến cuộc đua biến thời cơ hôm nay thành năng lực của ngày mai trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
![]() |
| Từ gia công, sản lượng và chi phí thấp, doanh nghiệp Việt phải chuyển sang cạnh tranh bằng công nghệ, năng suất và giá trị gia tăng. Ảnh: Đ.T |
Bài 2: Sự thúc ép của thời cuộc
Những lợi thế từng giúp doanh nghiệp Việt Nam tăng trưởng nhanh đang dần tới hạn. Khi thị trường và công nghệ đổi luật chơi, doanh nghiệp phải thay đổi cách tạo ra giá trị để không mắc kẹt trong quỹ đạo tăng trưởng cũ.
Thị trường đang viết lại luật chơi
“Tôi đến cuộc họp này với tâm trạng hơi thiếu tự tin, thậm chí có phần bối rối”, ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam mở đầu với giọng điệu ngần ngừ.
Cuộc làm việc của Viện Nghiên cứu Chính sách, Chiến lược đặt ra một bài toán khá rõ với các hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp: đề xuất cơ chế, chính sách, sáng kiến có thể tác động ngay để phát huy tối đa năng lực doanh nghiệp, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026 và những năm tới.
Nhưng đại diện một trong những ngành xuất khẩu lớn của Việt Nam lại không có câu trả lời theo hướng đó. Thậm chí, ông Hoài nói, năm nay khả năng ngành gỗ tăng trưởng thấp, thậm chí có thể không tăng trưởng.
Đó là một nhận định khó hình dung, nếu chỉ nhìn vào chặng đường mà ngành này vừa đi qua. Có những năm trong giai đoạn 2018-2022, xuất khẩu gỗ và lâm sản tăng 19-20% mỗi năm. Năm 2025, kim ngạch đạt khoảng 18,5 tỷ USD. Mục tiêu vượt 20 tỷ USD, đưa Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất và chế biến đồ gỗ lớn thứ hai thế giới sau Trung Quốc, từng ở rất gần.
Nhưng rồi tình hình thị trường thay đổi nhanh. Sáu tháng đầu năm 2026, xuất khẩu chỉ tăng 4,4%, trong khi nhóm sản phẩm chế biến sâu lại giảm 2,7%. Hàng chủ yếu xuất sang Mỹ, với giá trị khoảng 10 tỷ USD mỗi năm, chiếm 54,6% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành. Cũng vì quá phụ thuộc vào một thị trường nên doanh nghiệp trở nên dễ tổn thương trước những thay đổi chính sách từ đối tác.
“Càng xuất khẩu nhiều thì biên lợi nhuận càng mỏng”, ông Hoài nói. Nhưng chính lúc nói về những khó khăn trước mắt, ông Hoài lại nhắc nhiều hơn đến một câu chuyện rất vĩ mô - đó là mô hình tăng trưởng dựa vào gia công và sản lượng đã đi đến giới hạn.
Theo đó, với một bộ bàn ghế xuất khẩu từ Việt Nam, doanh nghiệp gia công chỉ thu về khoảng 100 USD, trong khi ở khâu phân phối, giá trị có thể cao gấp nhiều lần. Doanh nghiệp Việt vẫn chủ yếu làm thuê trong chuỗi giá trị toàn cầu, ít tiếng nói, ít thương hiệu và ít quyền quyết định.
Chưa kể, mỗi doanh nghiệp đang làm theo cách của mình, có thể xuất khẩu nhiều sản phẩm, ký được nhiều đơn hàng, nhưng chưa ngồi được với nhau để kể câu chuyện về sản phẩm của Việt Nam. “Không thể chấp nhận mãi thân phận gia công, không thể chỉ chạy theo tăng trưởng về khối lượng”, ông Hoài nói.
Logic cạnh tranh trong kỷ nguyên AI
Đó không chỉ là câu chuyện của ngành gỗ. Số lớn doanh nghiệp trong các ngành thâm dụng lao động thẳng thắn thừa nhận họ đang vô cùng khó sống, trừ vài doanh nghiệp tìm được con đường thành công riêng. PGS-TS. Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam gọi đó là áp lực phải thay đổi về “tầm chơi” của doanh nghiệp Việt Nam.
Ông nói điều này tại Phiên đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp Hưng Yên trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam (VPSF) diễn ra giữa tháng 8/2026, với mong muốn góp một phần nhận thức về “tầm nhìn”, hay nói dân dã là “tầm chơi” của thời đại mới. Bởi theo ông, tình thế hiện nay “không thể nói là bình thường”: đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số đã khó, nhưng khó hơn là vượt lên một đẳng cấp mới trong cuộc đua toàn cầu.
Kỷ nguyên AI đang đòi hỏi những năng lực cạnh tranh theo những logic hoàn toàn khác truyền thống.
- GS-TS. Vũ Minh Khương (Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore)
“Đổi tầm chơi” vì thế không đơn giản là làm lớn hơn những gì đang làm. Một doanh nghiệp có thể mở thêm nhà máy, tuyển thêm lao động, nhận thêm đơn hàng và tăng doanh thu. Nhưng nếu vẫn đứng ở khâu tạo ra phần giá trị thấp nhất, vẫn phụ thuộc vào một vài thị trường, vẫn cạnh tranh chủ yếu bằng chi phí, thì quy mô lớn hơn chưa chắc đã đồng nghĩa với một vị thế tốt hơn.
Thậm chí, GS-TS. Vũ Minh Khương (Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore) phải nhắc đến phương án doanh nghiệp có thể phải chấp nhận dừng lại ở đỉnh cao để chuyển sang quỹ đạo khác. “Kỷ nguyên AI đang đòi hỏi những năng lực cạnh tranh theo những logic hoàn toàn khác truyền thống”, GS-TS. Vũ Minh Khương nói.
Theo logic truyền thống, quy mô, nguồn lực sở hữu tạo nên sức mạnh; hiệu quả tạo nên lợi nhuận..., nhưng trong kỷ nguyên AI, kết nối mới khuếch đại sức mạnh, thông tuệ tạo nên sức mạnh, đổi mới tạo nên tăng trưởng. Đặc biệt, bài toán cạnh tranh sẽ không còn giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, mà là giữa các hệ sinh thái, giữa các chuỗi giá trị. Nhưng đây đang là một trong những điểm yếu cốt tử của doanh nghiệp Việt Nam.
Cách đây gần 1 năm, một số doanh nghiệp lớn đã ngồi với nhau tại Toàn cảnh Kinh tế tư nhân Việt Nam (ViPEL 2025), với mong muốn xây dựng mô hình mẫu trong việc kết hợp doanh nghiệp thực hiện các dự án phát triển một số ngành có lợi thế cạnh tranh theo chuỗi. Trong mô hình này, doanh nghiệp có thế mạnh trong ngành sẽ dẫn đầu chuỗi, đi cùng là các nhà cung ứng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa...
Song, các kế hoạch dường như vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu những trường hợp thành công để xây dựng tiêu chí lựa chọn, đề xuất cơ chế, chính sách.
Thực ra, đây chính là phương thức nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) áp dụng khi đến Việt Nam. Trước đây, các doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn Quốc thường mang theo hệ sinh thái và các nhà cung cấp đã có mối quan hệ mật thiết với họ, rất ngại thay đổi đối tác. Hiện tại, những doanh nghiệp đã có chuỗi cũng chọn đầu tư theo cách này, vì đi cùng quỹ đạo của phát triển xanh, chuyển đổi số, các tiêu chuẩn rất cao về môi trường...
Hệ quả là, cơ hội để doanh nghiệp nội tham gia chuỗi giá trị của khu vực FDI vẫn hẹp. Nhưng tham gia chuỗi mới chỉ là nửa đầu kế hoạch đổi tầm chơi cho doanh nghiệp Việt. Nửa còn lại là khả năng học hỏi và tích lũy năng lực, nhận chuyển giao công nghệ, làm chủ công nghệ để một ngày nào đó doanh nghiệp Việt có thể đứng ở vị trí dẫn dắt.
Bài học từ Trung Quốc đã cho thấy điều đó. Từng phụ thuộc rất lớn vào FDI, tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI có thời điểm lên gần 60%, nhưng cùng với thời gian, doanh nghiệp trong nước của Trung Quốc lớn lên, năng lực nội địa được củng cố. Kể từ giai đoạn 2003-2005, tỷ trọng xuất khẩu của FDI giảm xuống, trong khi khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước vươn lên rất mạnh.
Mấu chốt là, theo TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), một vài doanh nghiệp tư nhân, dù quy mô và tầm ảnh hưởng rất lớn, cũng không thể tạo ra một hệ sinh thái hoàn chỉnh. “Để có những hệ sinh thái đủ sức cạnh tranh, không thể thiếu vai trò kiến tạo của Nhà nước, từ thúc đẩy doanh nghiệp dẫn đầu đến các chính sách đầu tư cho nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo...”, ông Cung khẳng định.
Bài học bẫy thu nhập trung bình
Đằng sau những áp lực phải thay đổi rất cụ thể của từng ngành, từng doanh nghiệp là một câu hỏi lớn hơn: Việt Nam sẽ tăng trưởng bằng gì khi những lợi thế từng đưa nền kinh tế đi rất nhanh đã tới hạn? GS-TS. Vũ Minh Khương cho rằng, đây là bài toán cần phải làm rõ không chỉ lời giải mà cả cách tư duy để tìm ra lời giải.
“Hồi tháng 7, khi thông tin Việt Nam bước vào ngưỡng thu nhập trung bình cao được công bố chính thức, Ngân hàng Thế giới và các tổ chức quốc tế dồn dập hỏi tôi cảm nhận gì. Tôi đã nói, đây là một dấu mốc đáng mừng, ghi nhận thành quả 40 năm Đổi mới của Việt Nam. Nhưng cũng là thách thức lớn cho hai thập kỷ tới. Malaysia đã nằm ở ngưỡng này 39 năm, Thái Lan cũng dừng ở đây mười mấy năm. Nhiều nền kinh tế đi đến đây rất nhanh nhưng chững lại rất lâu”, ông Khương đặt vấn đề.
Điều đáng lo ngại là, theo ông, nhiều quốc gia không chỉ tăng trưởng chậm lại, mà là tiếp tục tăng trưởng bằng tư duy cũ. Đó là nguyên nhân bẫy thu nhập trung bình xuất hiện trong chính giai đoạn tăng trưởng cao của nhiều nền kinh tế.
“Đổi mới 1.0” đã giúp Việt Nam thoát khỏi cách nghĩ cũ để mở cửa và giải phóng nguồn lực. Nhưng thời cuộc đang đòi hỏi một bước khác: không chỉ bắt nhịp với thời đại, mà phải hình dung được Việt Nam năm 2045 sẽ như thế nào, từ đó đặt những viên gạch đầu tiên cho quỹ đạo phát triển mới.
Để đi đến đó, Việt Nam đang cần những “phương tiện bay” hiện đại hơn, có khả năng chống chịu và ứng phó tốt hơn với những biến động của thời cuộc; cần hệ thống la bàn, dẫn đường thông minh hơn, nhạy bén hơn và quan trọng là hệ thống quản trị quốc gia, thể chế thúc đẩy sự chuyển dịch vào quỹ đạo mới.
(Còn tiếp)
-
Sớm đưa quyết sách của Quốc hội vào cuộc sống, “không được để người dân, doanh nghiệp phải chờ đợi” -
Quốc hội quyết định cắt giảm 62 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện -
Quốc hội quyết định thành lập thành phố Quảng Ninh và thành phố Bắc Ninh -
Quốc hội đồng ý tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành 3 dự án độc lập -
TP.HCM đề xuất mức giá thuê đất với công trình ngầm làm kinh doanh, dịch vụ -
Phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình Mục tiêu Quốc gia mới, nguồn lực 808.558 tỷ đồng -
Quốc hội thông qua đề xuất giảm thuế, có hiệu lực thi hành ngay
-
SHBFinance chuyển đổi từ Công ty TNHH hai thành viên trở lên thành Công ty TNHH một thành viên -
Thế hệ Gen Z, Millennials châu Á - Thái Bình Dương nâng cao sức khỏe nhờ chăm sóc toàn diện -
VPBank đồng hành doanh nghiệp Đài Loan đón chu kỳ đầu tư mới tại Việt Nam -
Kinh Đô tiếp tục đưa ra thị trường hơn 80 sản phẩm bánh Trung thu -
SHBFinance chuyển đổi từ Công ty TNHH hai thành viên trở lên thành Công ty TNHH một thành viên -
FPT và PVFCCo-Phú Mỹ hoàn thành triển khai Digital Twin tại Nhà máy Đạm Phú Mỹ

