Thứ Ba, Ngày 29 tháng 09 năm 2026,
Gần cán đích 74 tỷ USD, xuất khẩu nông sản vẫn đối mặt nhiều sức ép
Linh Nguyễn - 29/09/2026 16:25
 
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sau 9 tháng đạt 56,3 tỷ USD, nhưng chặng cuối năm đòi hỏi ngành nông nghiệp phải nâng chất lượng, chế biến sâu và mở rộng thị trường.

Rau quả, thủy sản tiếp tục giữ nhịp tăng

Sau 9 tháng, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng và đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của ngành nông nghiệp. Nhiều mặt hàng chủ lực như rau quả, thủy sản, sản phẩm chăn nuôi ghi nhận kết quả khả quan, trong khi một số nhóm hàng khác bắt đầu bộc lộ rõ sức ép từ giá xuất khẩu giảm, nhu cầu thị trường biến động và yêu cầu chất lượng ngày càng cao.

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trong 9 tháng năm 2026 ước đạt 56,3 tỷ USD, tương đương khoảng 75,9% mục tiêu cả năm. Riêng tháng 9, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 6,51 tỷ USD, tăng 5,7% so với cùng kỳ.

Trong cơ cấu xuất khẩu, nhóm nông sản đạt khoảng 29,28 tỷ USD, lâm sản đạt 14,41 tỷ USD, thủy sản đạt 9,17 tỷ USD, còn sản phẩm chăn nuôi đạt 564,4 triệu USD. 

Diễn biến giữa các nhóm hàng cho thấy bức tranh xuất khẩu đang có sự phân hóa khá rõ, khi những mặt hàng tận dụng tốt nhu cầu thị trường tiếp tục tăng trưởng mạnh, còn một số sản phẩm chịu tác động trực tiếp từ giá thế giới.

nghean2
Phát triển nông, lâm, thủy sản cần hướng tới một nền nông nghiệp hiện đại, sinh thái, có giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững. Ảnh: Linh Nguyễn

Rau quả tiếp tục nằm trong nhóm tạo động lực tăng trưởng rõ nét nhất khi kim ngạch xuất khẩu 9 tháng ước đạt 7,35 tỷ USD, tăng 19,9%. Riêng sầu riêng, đến hết tháng 8, kim ngạch đã đạt khoảng 2,27 tỷ USD, tăng 47,8%, qua đó đóng góp đáng kể vào mức tăng chung của ngành rau quả.

Theo ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, đà tăng của xuất khẩu rau quả trong những tháng gần đây có sự đóng góp lớn từ sầu riêng khi mặt hàng này bước vào chính vụ, trong lúc nhu cầu từ Trung Quốc và một số thị trường khác vẫn duy trì tích cực. 

Ở một số thời điểm, nguồn cung từ các nước cạnh tranh như Thái Lan và Malaysia giảm cũng tạo thêm khoảng trống để sầu riêng Việt Nam gia tăng hiện diện tại thị trường Trung Quốc.

Cùng với rau quả, thủy sản tiếp tục duy trì tốc độ tăng khá khi kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 9,17 tỷ USD, tăng 12,3%. 

Sản phẩm chăn nuôi tuy chưa chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch nhưng mức tăng 24,6% cho thấy dư địa thị trường vẫn còn nếu chất lượng, kiểm dịch và tiêu chuẩn kỹ thuật tiếp tục được đáp ứng tốt.

Kết quả này cho thấy ngành thủy sản vẫn phải đối mặt với nhiều sức ép, từ chi phí nguyên liệu, logistics đến yêu cầu chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định. Tại một số thị trường, doanh nghiệp còn phải xử lý thêm các rào cản kỹ thuật và biện pháp phòng vệ thương mại, khiến chi phí tuân thủ tăng lên đáng kể.

Chuyển từ bán sản phẩm sang bán giá trị

Nếu rau quả và thủy sản đang giữ nhịp tăng tốt, cà phê và gạo lại cho thấy một diễn biến khác. Trong 9 tháng, lượng cà phê xuất khẩu đạt khoảng 1,44 triệu tấn, tăng 15,4%, nhưng kim ngạch chỉ đạt 6,54 tỷ USD, giảm 7,3% do giá xuất khẩu bình quân giảm tới 19,7%.

Với gạo, lượng xuất khẩu giảm 6,1%, còn khoảng 6,4 triệu tấn, trong khi kim ngạch giảm 10,9%, xuống còn khoảng 3,11 tỷ USD. Giá xuất khẩu bình quân giảm 5,1%, còn khoảng 485 USD/tấn.

Để hoàn thành mục tiêu 74,212 tỷ USD trong năm 2026, ba tháng cuối năm ngành nông nghiệp cần xuất khẩu thêm khoảng 17,91 tỷ USD, tương đương bình quân 5,97 tỷ USD mỗi tháng. Với kết quả hiện tại, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đánh giá kim ngạch cả năm vẫn có khả năng đạt hoặc vượt mục tiêu nếu những nhóm hàng chủ lực tiếp tục giữ được nhịp tăng và thị trường không xuất hiện biến động lớn.

Trong số các nhóm hàng chính, gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản, rau quả, cao su và sản phẩm chăn nuôi được đánh giá có khả năng đạt hoặc vượt kế hoạch. Ngược lại, cà phê, hạt điều, sắn và chè vẫn phải đối mặt với nhiều sức ép, đặc biệt là từ diễn biến giá và nhu cầu tiêu thụ tại các thị trường lớn.

Bài toán của những tháng cuối năm nằm ở khả năng củng cố nền tảng sản xuất và kết nối chặt hơn với nhu cầu thị trường. Thực tế cho thấy liên kết giữa sản xuất, chế biến và xuất khẩu tại nhiều nơi vẫn chưa bền vững, nhiều vùng nguyên liệu chưa gắn ổn định với doanh nghiệp theo hợp đồng dài hạn hoặc đơn hàng cụ thể.

Dữ liệu về vùng trồng, vùng nuôi, cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc cũng chưa được đồng bộ ở nhiều ngành hàng, trong khi sản xuất nhỏ lẻ vẫn chiếm tỷ trọng lớn. 

Với rau quả, cần tiếp tục kiểm soát mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và truy xuất nguồn gốc. Riêng sầu riêng, định hướng đang chuyển dần sang tăng tỷ trọng sản phẩm đông lạnh, puree, sấy và các sản phẩm chế biến nhằm giảm phụ thuộc vào mùa vụ, kéo dài thời gian bảo quản và nâng giá trị trên mỗi đơn vị nguyên liệu.

Ở mặt hàng cà phê, mục tiêu cũng không còn đặt nặng vào tăng lượng xuất khẩu mà chuyển sang nâng chất lượng, phân loại sản phẩm và phát triển các phân khúc có giá trị cao hơn như cà phê rang xay, cà phê hòa tan và cà phê đặc sản…

Đối với gạo, bên cạnh giữ ổn định các thị trường hiện có, ngành hàng cần tăng tỷ trọng gạo thơm, gạo chất lượng cao và mở rộng sang những thị trường có khả năng chấp nhận mức giá tốt hơn. 

Song song với cơ cấu lại sản phẩm, đa dạng hóa thị trường tiếp tục được xác định là hướng đi quan trọng. Ngành nông nghiệp đang đặt mục tiêu khai thác tốt hơn các thị trường châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và các nước thành viên CPTPP, RCEP, đồng thời mở rộng dư địa tại Trung Đông, Nam Á, châu Phi và Mỹ Latinh đối với các mặt hàng Việt Nam có lợi thế như gạo, cà phê, hồ tiêu, rau quả chế biến, thủy sản và sản phẩm chăn nuôi.

1-7-2
Trong 9 tháng, lượng cà phê xuất khẩu đạt khoảng 1,44 triệu tấn, tăng 15,4%. Ảnh: Linh Nguyễn

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc nhấn mạnh, phát triển nông, lâm, thủy sản cần hướng tới một nền nông nghiệp hiện đại, sinh thái, có giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững. Theo định hướng này, cách tổ chức sản xuất cũng cần thay đổi theo hướng bám sát nhu cầu thị trường ngay từ đầu, thay vì sản xuất xong mới tìm đầu ra.

Điều đó đồng nghĩa với chuyện nghiên cứu thị trường phải đi trước một bước, từ đó xác định quy mô vùng nguyên liệu, cơ cấu giống, tiêu chuẩn đầu vào, phương thức chế biến, xây dựng thương hiệu và tổ chức phân phối phù hợp. Khi chuỗi sản xuất được thiết kế theo nhu cầu của thị trường, khả năng kiểm soát chất lượng và nâng giá trị sản phẩm cũng sẽ rõ ràng hơn.

Với mục tiêu tăng trưởng GDP toàn ngành 4% và kim ngạch xuất khẩu trên 74 tỷ USD trong năm 2026, chặng cuối năm sẽ là giai đoạn quan trọng để kiểm chứng khả năng chuyển dịch của ngành nông nghiệp. Tăng kim ngạch vẫn là mục tiêu trước mắt, nhưng về dài hạn, sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào chất lượng, chế biến sâu, thương hiệu và khả năng đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế.

Phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trên 74,2 tỷ USD
Ngày 8/5, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đảm bảo mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư