-
Vinh danh các doanh nghiệp đạt Top Thương hiệu mạnh Quốc gia 2026 -
Bộ sưu tập mới của thương hiệu thời trang Nhật Bản -
Hòa nhập - năng lực cạnh tranh mới của doanh nghiệp toàn cầu -
VietinBank 7 năm liên tiếp được vinh danh “Ngân hàng cung cấp dịch vụ ngoại hối tốt nhất Việt Nam” -
Moody’s công bố giữ nguyên xếp hạng tín nhiệm đối với Agribank
Phát triển có chiều sâu
Năm 2025, kinh tế Hải Phòng tiếp tục khẳng định vị thế “đầu tầu” tăng trưởng của cả nước với tốc độ tăng GRDP đạt 11,81%, đứng thứ hai toàn quốc, đánh dấu năm thứ 11 liên tiếp duy trì mức tăng trưởng hai con số. Thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) trong các khu kinh tế, khu công nghiệp đạt 2,54 tỷ USD với 111 dự án; thu hút đầu tư trong nước (DDI) đạt 364.334 tỷ đồng với 54 dự án. Lũy kế đến nay, trong các khu kinh tế, khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn thành phố có 1.034 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 43 tỷ USD và 372 dự án DDI với tổng vốn 542.091 tỷ đồng.
Đáng chú ý, tăng trưởng kinh tế của Hải Phòng không chỉ được phản ánh qua các con số về quy mô mà còn thể hiện rõ định hướng phát triển có chọn lọc, tập trung vào các ngành tạo giá trị gia tăng cao. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng chủ yếu, chiếm tỷ trọng 44,4% trong GRDP, đạt tốc độ tăng 15,93% và đóng góp 7,48 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung của nền kinh tế thành phố.
Trong đó, nhiều ngành công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp trọng điểm tiếp tục là điểm sáng, góp phần nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của kinh tế Hải Phòng. Những kết quả này cho thấy rõ sự dịch chuyển tích cực trong cơ cấu kinh tế, phù hợp với định hướng nâng “chất” tăng trưởng và phát triển bền vững của thành phố.
![]() |
| KCN Nam Đình Vũ - thuộc Khu thương mại tự do TP. Hải Phòng |
Cùng với thu hút đầu tư, công tác quy hoạch và phát triển không gian kinh tế tiếp tục được triển khai đồng bộ. Năm 2025, thành phố đã thành lập thêm 12 KCN mới, nâng tổng số KCN đã thành lập lên 43 KCN với tổng diện tích 11.852 ha. Tỷ lệ lấp đầy bình quân các KCN đạt khoảng 50%, tỷ suất đầu tư trung bình đạt 13 triệu USD/ha.
Hải Phòng cũng trình và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải đến năm 2045; tổ chức thực hiện nhiệm vụ Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế ven biển phía Nam Hải Phòng đến năm 2050; đồng thời thành lập Khu thương mại tự do thành phố Hải Phòng. Đây được xem là những nền tảng quan trọng để thành phố bước vào năm 2026 với khí thế mới, sự chủ động cao hơn và dư địa phát triển lớn hơn.
Có thể thấy, từ thực tiễn tăng trưởng kinh tế những năm qua, từ yêu cầu nâng cao chất lượng công nghiệp, phát triển công nghệ cao, công nghiệp xanh, đến sức ép ngày càng lớn về môi trường và hạ tầng đô thị, Hải Phòng đang đứng trước đòi hỏi phải lựa chọn con đường phát triển bền vững hơn, bài bản và dài hạn hơn; chuyển từ thu hút đầu tư theo chiều rộng sang phát triển có chọn lọc, từ theo quy mô sang nâng “chất” tăng trưởng.
Định hướng đó được thể chế hóa thông qua Quy hoạch thành phố Hải Phòng thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được điều chỉnh, phê duyệt mới đây. Theo quy hoạch, Hải Phòng hướng tới xây dựng thành phố Cảng công nghiệp hiện đại, văn minh, sinh thái và đáng sống tầm cỡ khu vực; lấy công nghiệp, kinh tế biển và logistics làm trụ cột phát triển, đồng thời từng bước chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên chất lượng, hiệu quả và đổi mới sáng tạo. Đây chính là khuôn khổ để thành phố sàng lọc động lực tăng trưởng, ưu tiên các ngành có giá trị gia tăng cao, công nghệ tiên tiến, kiểm soát chặt chẽ tác động môi trường và tổ chức lại không gian phát triển theo hướng bền vững.
Việc nâng “chất” tăng trưởng không chỉ nhằm duy trì vai trò cực tăng trưởng quan trọng của Hải Phòng mà còn hướng tới mục tiêu phát triển hài hòa giữa kinh tế, môi trường và chất lượng sống. Đó cũng là nền tảng để thành phố tiếp tục bứt phá trong giai đoạn tới vững chắc hơn, dài hạn hơn, phù hợp với kỳ vọng của người dân và yêu cầu phát triển của một đô thị cảng công nghiệp lớn trong tương lai.
Xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ cạnh tranh tại Hải Phòng
Hải Phòng cũng sở hữu nhiều khu công nghiệp có hạ tầng đồng bộ, hiện đại như Nam Đình Vũ, Tràng Duệ, DEEP C, VSIP... liên tục thu hút dự án mới, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Việc tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp Việt – FDI được xem là giải pháp then chốt nhằm hình thành hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ cạnh tranh, phát triển bền vững tại Hải Phòng.
![]() |
| Ông Nguyễn Thành Phương, Tổng giám đốc Tập đoàn Sao Đỏ (ngoài cùng bên phải) tại Hội nghị Tiềm năng và cơ hội đầu tư tại Hải Phòng |
Tuy nhiên, ông Nguyễn Thành Phương, Tổng giám đốc Tập đoàn Sao Đỏ - chủ đầu tư KCN Nam Đình Vũ cho rằng, dù có nhiều lợi thế, hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ của Hải Phòng vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, đặc biệt là sự liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI. Tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều chuỗi giá trị còn thấp, quy mô và năng lực của các doanh nghiệp hỗ trợ nội địa vẫn hạn chế.
“Mặc dù có các nhà máy FDI lớn, nhiều linh kiện, vật liệu vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài do thiếu nhà cung ứng nội địa đạt tiêu chuẩn. Bên cạnh đó, thông thường các nhà cung ứng trong nước mới đáp ứng được các đơn hàng có giá trị thấp hoặc cung cấp phụ tùng cấp 3 - 4; còn các nhà cung cấp cấp 1, cấp 2 quy mô và tiêu chuẩn quốc tế chưa nhiều”, ông Phương phân tích.
Để thúc đẩy sự liên kết giữa doanh nghiệp Việt và chuỗi cung ứng toàn cầu, ông Nguyễn Thành Phương đề xuất 4 nhóm giải pháp.
Thứ nhất, về chính sách và cơ chế. Hải Phòng có thể xây dựng chính sách ưu đãi cho dự án FDI cam kết nội địa hóa như: xây dựng các gói ưu đãi về thuế, đất cho dự án có tỷ lệ nội địa hóa/cam kết R&D cao, ưu tiên cho dự án tạo chuỗi cung ứng nội địa. Cùng với đó, hình thành quỹ vốn mồi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ nâng cấp công nghệ.
Thứ hai, về phát triển năng lực doanh nghiệp. Hải Phòng cần có chương trình nâng cấp năng lực, hợp tác với các FDI lớn để triển khai chương trình đánh giá và đào tạo nhà cung cấp. Hỗ trợ các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tại Hải Phòng đạt chứng nhận quản trị chất lượng quốc tế (ISO/IATF), từ đó tăng tỷ lệ nội địa hóa.
Thứ ba, về kết nối chuỗi cung ứng, cần xây dựng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng để các nhà đầu tư FDI tìm kiếm. Đây là giải pháp chi phí thấp nhưng hiệu quả cao giúp rút ngắn thời gian chọn nhà cung ứng. Thường xuyên tổ chức Diễn đàn FDI – Nhà cung ứng Hải Phòng hàng năm, công bố danh mục nhu cầu linh kiện của các dự án FDI.
Thứ tư, về xây dựng hệ sinh thái đổi mới, ông Phương đề xuất kêu gọi những FDI lớn tham gia xây dựng trung tâm thử nghiệm và kiểm định nhà cung ứng. Đồng thời, khuyến khích R&D tại địa phương bằng việc kêu gọi FDI mở các trung tâm R&D/regional hub-LG và nhiều nhà đầu tư Hàn Quốc, Nhật Bản đã có trung tâm và nhà máy ở khu vực này. Việc khuyến khích thêm R&D sẽ tăng khả năng chuyển giao công nghệ và tạo cầu cho các nhà cung ứng địa phương.
![]() |
| Cảng nội khu quốc tế Nam Đình Vũ |
Bên cạnh các giải pháp trên, chúng ta nên có chỉ số theo dõi tỷ lệ nội địa hóa theo ngành, số doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đạt chứng nhận quốc tế, giá trị xuất khẩu sản phẩm do nhà cung ứng trong nước sản xuất, số dự án FDI có cam kết nội địa hóa.
-
Hải Phòng đẩy mạnh xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ hiện đại, bền vững -
Moody’s công bố giữ nguyên xếp hạng tín nhiệm đối với Agribank -
Hạ tầng khí - mắt xích then chốt trong lộ trình chuyển dịch năng lượng xanh -
Khí tự nhiên trong lộ trình chuyển dịch năng lượng cho công nghiệp của Việt Nam -
Áp lực nguồn cung khí trong nước và bài toán bảo đảm năng lượng cho công nghiệp Việt Nam -
Chi tiêu cân nhắc nhưng giữ trọn Tết đoàn viên đủ đầy -
SeABank đạt 6.868 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng trưởng về quy mô và hiệu quả hoạt động
-
Bộ sưu tập mới của thương hiệu thời trang Nhật Bản -
Hải Phòng đẩy mạnh xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ hiện đại, bền vững -
Hòa nhập - năng lực cạnh tranh mới của doanh nghiệp toàn cầu -
VietinBank 7 năm liên tiếp được vinh danh “Ngân hàng cung cấp dịch vụ ngoại hối tốt nhất Việt Nam” -
Moody’s công bố giữ nguyên xếp hạng tín nhiệm đối với Agribank -
Hạ tầng khí - mắt xích then chốt trong lộ trình chuyển dịch năng lượng xanh



