-
Đà Nẵng hút 116.000 tỷ đồng vốn đầu tư; Hải Phòng dồn lực giải ngân 19.575 tỷ đồng -
Quảng Ngãi tháo gỡ điểm nghẽn, thúc tiến độ các dự án giao thông trọng điểm -
Đề xuất đầu tư 11.107 tỷ đồng xây đường 6 làn xe kết nối Ninh Bình, Hưng Yên -
Khu công nghệ cao Đà Nẵng mở cửa đón dòng vốn chiến lược -
Thu hút dòng vốn chất lượng cao từ Singapore: Cơ hội đi cùng yêu cầu mới -
Quảng Ngãi gỡ vướng dự án giao thông gần 700 tỷ đồng
| Mật độ dân số của Việt Nam được đánh giá thuộc loại cao tạo ra những gánh nặng về hạ tầng cơ sở |
Việt Nam có diện tích thứ 4 (sau Indonesia, Myanmar, Thái Lan); dân số đứng thứ 3 (sau Indonesia, Philippines), mật độ dân số đạt 277 người/km2 (đứng thứ 3 sau Singapore, Philippines) và GDP năm 2015 đạt khoảng 193,4 tỷ USD (đứng thứ 6 sau Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Singapore và Philippines).
Việt Nam có tỷ trọng kinh tế thực (gồm 2 nhóm ngành sản xuất vật chất là nông, lâm nghiệp - thủy sản và công nghiệp - xây dựng) trong GDP đạt trên 50%, (sau Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào), cao hơn Singapore, Malaysia, Philippines, Thái Lan. Điều này có một phần do Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, để chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang cấp độ cao hơn. Cần lưu ý, năng suất lao động của Việt Nam thuộc loại thấp: lao động làm nông nghiệp chủ yếu là lấy công làm lãi; lao động làm công nghiệp chủ yếu là gia công, lắp ráp; lao động làm dịch vụ chưa có tính chuyên nghiệp, còn kiêm nhiệm nhiều và buôn bán thuần túy.
Kinh tế Việt Nam có độ mở khá cao, tỷ lệ xuất khẩu/GDP lớn và tăng nhanh (từ dưới 50% năm 2002 lên 83,9% năm 2015), cao thứ 2 sau Singapore. Xuất khẩu bình quân đầu người thuộc loại tương đối cao (chỉ sau Singapore, Malaysia, Thái Lan, Brunei). Tuy nhiên, tính gia công lắp ráp cao, phụ thuộc vào nhập khẩu, thị phần xuất khẩu chủ yếu do khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Dung lượng thị trường trong nước lớn (xấp xỉ 150 tỷ USD), nhưng chất lượng thị trường thấp; một số hàng hóa, dịch vụ giá cả chưa theo giá thị trường.
Bất bình đẳng giới của Việt Nam thuộc loại thấp (chỉ cao hơn Singapore và Malaysia), còn thấp xa so với các nước còn lại.
Tuy nhiên, vị thế của Việt Nam còn thấp về một số mặt quan trọng.
Mật độ dân số của Việt Nam thuộc loại cao. Đây là một hạn chế cho nhiều chỉ tiêu bình quân đầu người, đặc biệt tạo ra những gánh nặng về hạ tầng cơ sở, về nhiều chỉ tiêu xã hội (y tế, giáo dục, nhà ở...).
Tỷ lệ dân số thành thị của Việt Nam thuộc loại thấp (chỉ cao hơn Campuchia, Đông Timor, Myanmar), thấp hơn cả Lào, thấp xa so với Thái Lan (47%), Indonesia (50%), Philippines (63%), Malaysia (71%), Brunei (76%), Singapore (100%). Đây là một trong những tiêu chí của một nước công nghiệp mà Việt Nam còn đạt thấp; điều quan trọng hơn là phương thức đô thị hóa (ly nông bất ly hương) và chất lượng đô thị hóa (cơ sở hạ tầng, phong cách sống công nghiệp...).
Việt Nam có tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân năm thời kỳ 2010-2015 cao nhất trong khu vực. Tuy nhiên đó chủ yếu do CPI năm 2011 cao (18,13%), còn năm 2014 và 2015, CPI của Việt Nam thuộc loại thấp nhất trong hơn một thập kỷ qua và thuộc loại thấp so với các nước, kể cả các nước có nền kinh tế phát triển, có nhiều năm phát triển kinh tế thị trường.
Tốc độ tăng GDP bình quân năm trong giai đoạn 2011 - 2015 của Việt Nam còn thấp hơn cả các nước như Đông Timor, Lào, Campuchia... Mặc dù năm 2014 và năm 2015 đã cao lên, nhưng tính bình quân giai đoạn 2011 - 2015 lại thấp hơn 5 năm trước đó, đồng thời thấp hơn yêu cầu chống tụt hậu xa hơn và dự kiến không đạt được mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. GDP bình quân đầu người tăng khá, nhưng khoảng cách mức tuyệt đối so với các nước vẫn còn lớn và doãng ra.
Xếp hạng của Việt Nam trên thế giới về năng lực cạnh tranh còn thấp khá xa so với 5 nước đầu trong ASEAN.
Chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp so với nhiều nước, khi tỷ trọng đóng góp vào tốc độ tăng trưởng GDP của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) còn thấp. Trước thực trạng của nền kinh tế như vậy, Việc Nam đang nỗ lực bằng mọi cách để phấn đấu đưa tỷ trọng đóng góp của TFP bình quân 5 năm lên đến 33,39% - vượt mục tiêu của kế hoạch 5 năm. Dẫu vậy, hiệu quả đầu tư lại rất thấp, khi hệ số ICOR năm 2015 lên tới 6,88 lần và bình quân giai đoạn 2011-2015 là 6,91 lần - tuy thấp hơn mức 6,96 lần của thời kỳ 2006 - 2010, nhưng cao hơn nhiều so với hệ số 4,88 lần của thời kỳ 2001-2005. Hệ số này trong thời kỳ 2011 - 2013 của Trung Quốc là 6,4 lần, Malaysia là 5,4 lần, Indonesia là 4,64 lần, Philippines là 4,1 lần và Lào là 2,59 lần.n
-
Thu hút dòng vốn chất lượng cao từ Singapore: Cơ hội đi cùng yêu cầu mới -
Quảng Ngãi gỡ vướng dự án giao thông gần 700 tỷ đồng -
Đà Nẵng hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số 1 tỷ đồng/năm, hút nhân lực chất lượng cao -
Quảng Ngãi: Vướng mặt bằng, chủ đầu tư xin dừng nhiều dự án khai thác quỹ đất -
AEON Việt Nam khởi công trung tâm thương mại mới tại Phủ Lý, quy mô gần 1.000 tỷ đồng -
Thêm nhà đầu tư đề xuất thực hiện dự án tại Khu thương mại tự do Đà Nẵng -
Loạt dự án tại KKT mở Chu Lai khởi công, khánh thành chào mừng Quốc khánh 2-9
-
1
Đề xuất nghiên cứu hình thành 28 khu TOD trên tuyến đường sắt TP.HCM - Cần Thơ -
2
Nền kinh tế tiếp tục duy trì xu hướng tích cực -
3
Nước rút khởi công cao tốc Bắc Kạn - Cao Bằng vốn 29.300 tỷ đồng vào tháng 12/2026 -
4
Đề xuất tiếp tục nới trần tiền gửi Kho bạc Nhà nước để tạo thêm thanh khoản cho ngân hàng
-
ASEAN Online Sale Day 2026 chính thức diễn ra trên toàn khu vực -
Công ty cổ phần kinh doanh F88 thông báo chào bán trái phiếu ra công chúng đợt 3 (Kỳ 3) -
Sandoz bổ nhiệm Tổng giám đốc mới tại Việt Nam -
Công ty Cổ phần Đầu tư Quốc tế Hoàng Anh Gia Lai thông báo chào bán 18.800.000 cổ phiếu lần đầu ra công chúng (Kỳ 3) -
Công ty cổ phần kinh doanh F88 thông báo chào bán trái phiếu ra công chúng đợt 3 (Kỳ 2) -
SeABank thông báo mời thầu

