Thứ Bảy, Ngày 06 tháng 06 năm 2026,
Phát triển thanh toán thông minh phải đi kèm với an toàn bảo mật
Thùy Vinh - 06/06/2026 15:28
 
Thanh toán không còn là khâu cuối cùng của giao dịch, mà đang trở thành "hệ điều hành" của nền kinh tế số, nhưng đòi hỏi an toàn, đặc biệt khi lừa đảo công nghệ cao ngày càng tinh vi.

Đẩy mạnh thanh toán thông minh

Chia sẻ tại hội thảo "Thanh toán thông minh trong kỷ nguyên số" được tổ chức tại TP.HCM ngày 6/6, ông Phạm Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Thanh toán Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho rằng, thanh toán đang trở thành "hệ điều hành" của nền kinh tế số.

Tuy nhiên, người dân sẽ không sử dụng thanh toán số nếu không cảm thấy an toàn, trong bối cảnh lừa đảo công nghệ cao và deepfake ngày càng tinh vi.

Theo ông Tuấn, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, API, định danh số, sinh trắc học, thiết bị di động và kết nối số đang làm thay đổi căn bản cách thức sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Thanh toán không còn là khâu cuối cùng của giao dịch, mà đang trở thành "hệ điều hành" của nền kinh tế số, xuất hiện ở các điểm chạm của hoạt động kinh tế như thương mại điện tử, dịch vụ công, giao thông, y tế, giáo dục, du lịch… tạo nền tảng dữ liệu để mở rộng hệ sinh thái số.

Hạ tầng thanh toán số tại Việt Nam đã phát triển nhanh với hơn 20.000 ATM, 780.000 POS; 83 ngân hàng cung ứng Internet Banking, 52 ngân hàng triển khai Mobile Banking cùng 52 trung gian thanh toán và 3 doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ tiền di động. Các hạ tầng trọng yếu gồm hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, hệ thống ACH, hệ thống thẻ, CIC và hạ tầng kết nối dữ liệu dân cư. "Có thể nói thanh toán thông minh đang trở thành hạ tầng chiến lược của nền kinh tế số Việt Nam", ông Tuấn nói.

Hiện ngành ngân hàng đã triển khai xác thực sinh trắc học, khai thác CCCD gắn chip và VNeID, làm sạch dữ liệu khách hàng, phát hiện giao dịch bất thường bằng AI, nhận diện tài khoản mule (tài khoản tiền ảo chuyển tiền bất hợp pháp), cảnh báo giao dịch theo thời gian thực và chia sẻ dữ liệu rủi ro giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ...

Tính đến cuối tháng 5/2026, hệ thống đã gửi hơn 4,4 triệu lượt cảnh báo cho khách hàng, trong đó có hơn 1,5 triệu lượt đã tạm dừng hoặc hủy bỏ giao dịch sau cảnh báo với tổng giá trị hơn 5.000 tỷ đồng. Ngành ngân hàng cũng đã đối chiếu sinh trắc học với hơn 161 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân và hơn 2,26 triệu hồ sơ tổ chức. Nhiều ngân hàng, trung gian thanh toán đã triển khai xác thực bằng CCCD gắn chip và VNeID nhằm giảm tài khoản không chính chủ, nâng cao chất lượng dữ liệu và tăng an toàn giao dịch.

GS.TS Nguyễn Đức Trung - Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM cho hay, vai trò của thanh toán thông minh trong việc hình thành cũng cho rằng, thanh toán điện tử đơn thuần là chuyển tiền, nhưng thanh toán thông minh thì ngoài chuyển tiền còn sản sinh ra dữ liệu.

Theo đó thanh toán thông minh gồm có bốn trụ cột là số hóa toàn diện, chuẩn hóa và tương tác, đặc biệt là tích hợp AI để phát hiện gian lận tức thời, cũng như bảo đảm an toàn bảo mật thông tin.

"Câu chuyện quan trọng nhất là dữ liệu tạo ra có lợi gì cho chúng ta? Thanh toán thông minh tạo ra 6 lớp dữ liệu từ người mua, người bán, bù trừ thanh toán, giao dịch, số lượng và đặc biệt là hành vi tiêu dùng, mật độ của người bán hàng. Nó vẽ cho chúng ta một bức tranh toàn cảnh nền kinh tế thực, kinh tế số", ông Trung nói.

Ông Trung đưa ra thống kê có 30% người Việt Nam không có hồ sơ tín dụng. Theo ông, không hồ sơ thì không phân tích được, không cho vay được. Nhưng họ lại thực hiện hàng trăm giao dịch và giao dịch thể hiện uy tín giao dịch của họ, uy tín cá nhân của họ, và cái này có thể là dữ liệu thay thế để chấm điểm tín dụng. Như vậy qua thanh toán thông minh là có thể chấm điểm tín dụng và cho vay được luôn. Tức là mọi người dân đều tiếp cận được tín dụng mà không cần hồ sơ tín dụng.

Thanh toán đang trở thành “hệ điều hành” của nền kinh tế số.

Một số mô hình quốc tế mà Việt Nam có thể tham khảo và ứng dụng.

Chẳng hạn, Trung Quốc là ứng dụng dựa vào tư nhân, với Alipay có 1,4 tỷ người dùng, WeChat là 935 triệu người dùng. Hai ông lớn này chiếm 90% thị phần Trung Quốc và chi phối toàn bộ hoạt động. Họ cho vay hàng chục triệu hộ tiểu thương không cần hồ sơ tín dụng, mà dựa hoàn toàn trên hồ sơ giao dịch của các hộ tiểu thương. Từ đó phát triển một nền kinh tế số cực kỳ mạnh mẽ ở Trung Quốc.

Ấn Độ có mô hình chính phủ đầu tư toàn bộ vào hạ tầng số quốc gia và không để tư nhân chi phối. Chỉ trong 9 năm, Ấn Độ tăng 12.000 lần giao dịch, từ 2 triệu lên 228,3 tỷ giao dịch. Đây chính là chính phủ kiến tạo, chính phủ tạo ra đường cao tốc dữ liệu và doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh.

Đi kèm với an toàn bảo mật

Ông Phạm Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Thanh toán NHNN cho rằng, nền kinh tế số chỉ có thể phát triển mạnh nếu hệ sinh thái thanh toán đủ năng lực đổi mới nhưng phải kiểm soát rủi ro, đảm bảo an toàn dữ liệu và trách nhiệm với người dùng. Mục tiêu là phải bảo đảm an ninh và an toàn tài chính. Công nghệ tạo ra sự thuận tiện, nhưng niềm tin tạo ra sự chấp nhận.

Người dân không sử dụng thanh toán số nếu họ không cảm thấy an toàn. Doanh nghiệp không đầu tư mạnh vào kênh số nếu môi trường số thiếu tin cậy. Tổ chức cung ứng dịch vụ không thể phát triển bền vững nếu thị trường mất niềm tin. Vì vậy, an toàn thanh toán trở thành một bộ phận quan trọng của an ninh kinh tế và an toàn tài chính quốc gia.  

Về định hướng thời gian tới, NHNN cho biết, sẽ tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho thanh toán không tiền mặt, triển khai cơ chế thử nghiệm sandbox, mở rộng kết nối hệ sinh thái số với các lĩnh vực khác và tăng cường bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đồng thời, NHNN thúc đẩy kết nối thanh toán QR xuyên biên giới với nhiều quốc gia như Thái Lan, Lào, Campuchia, Trung Quốc và Hàn Quốc, đồng thời chuẩn bị cho các xu hướng mới như ISO 20022, tokenisation và thanh toán xuyên biên giới thế hệ mới.

GS.TS Nguyễn Đức Trung - Hiệu trưởng Trường đại học Ngân hàng TP.HCM nhận định, Việt Nam đang đi rất đúng hướng về thanh toán thông minh.

Theo ông Trung, thanh toán thông minh không phải là điểm đến, đó là điểm khởi đầu. Giá trị căn bản của thanh toán thông minh không nằm ở bản thân giao dịch mà nằm ở lớp dữ liệu được tạo ra từ mỗi giao dịch đó.

Khi lớp dữ liệu này được quản trị tốt và khai thác có trách nhiệm, nó trở thành nền tảng cho một hệ sinh thái tài chính toàn diện, nơi tín dụng, bảo hiểm, đầu tư và quản trị tài chính cá nhân trở thành dịch vụ tiếp cận được với mọi cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế.

Cũng theo ông Trung, thách thức lớn nhất mà Việt Nam đang đối mặt không phải là thiếu ứng dụng thanh toán hay thiếu người dùng, mà là bẫy số hóa bề mặt: tăng trưởng số lượng giao dịch ấn tượng nhưng dữ liệu phân mảnh trong các hệ thống riêng biệt, không kết nối và không tạo ra giá trị liên ngành. Vượt qua bẫy này đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách, hạ tầng kỹ thuật và quản trị dữ liệu.

Trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quốc tế, hiện trạng tại Việt Nam, ông Trung cho rằng, trong ngắn hạn ban hành khung pháp lý đồng bộ về cơ chế chia sẻ dữ liệu khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, tránh tập trung dữ liệu thanh toán quốc gia vào tay một số ít doanh nghiệp tư nhân.

Trong đó, nhấn mạnh việc thống nhất tiêu chuẩn dữ liệu với việc ban hành quy tắc và khuôn khổ chung cho dữ liệu thanh toán (mẫu giao dịch, định danh, định dạng QR/API) để thúc đẩy tương tác. Đồng thời, hướng dẫn về “sản phẩm dữ liệu” có thể chia sẻ giữa các bên (ví dụ, dữ liệu thanh toán nền tảng không chứa thông tin nhận dạng cá nhân).

Ngoài ra, có cơ chế thiết lập Sandbox FinTech, trong đó khuyến khích ngân hàng và doanh nghiệp công nghệ thử nghiệm trong môi trường quản lý rủi ro thấp.

Trong trung hạn (2027-2030), theo ông Trung, đầu tư hạ tầng dữ liệu quốc gia: Xây dựng hoặc củng cố trung tâm dữ liệu lớn (data warehouse) tài chính quốc gia để thu thập và phân tích dữ liệu thanh toán (tương tự mô hình tại Argentina hoặc Ấn Độ). Tạo bộ công cụ phân tích tín dụng và giám sát dựa trên dữ liệu này.

Chú trọng phát triển Open Banking: Open Banking cho phép các nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba (Third-Party Providers - TPP) truy cập dữ liệu tiêu dùng từ các hệ thống ngân hàng truyền thống thông qua Open API, với sự đồng ý của khách hàng. Tại Việt Nam, việc NHNN ban hành Thông tư 64/2024/TT-NHNN về Open API được đánh giá là một bước tiến lịch sử.

“Lần đầu tiên, thị trường tài chính có những quy định cụ thể về chuẩn kết nối, trách nhiệm các bên và nguyên tắc chia sẻ dữ liệu an toàn. Nhờ hành lang pháp lý này, vai trò của ngân hàng đã dịch chuyển từ các ốc đảo dữ liệu sang chia sẻ dữ liệu, tạo điều kiện để các công ty công nghệ tài chính (Fintech) và các doanh nghiệp phi tài chính phát triển những dịch vụ đa dạng dựa trên nền tảng dữ liệu dùng chung”, ông Trung nói.

Tăng cường năng lực giám sát: Nâng cao công cụ và phương pháp phân tích dữ liệu cho cơ quan quản lý (big data analytics, mô hình dự báo kinh tế). Đào tạo nhân lực phân tích và phối hợp liên ngành (tài chính, số liệu lớn, an ninh mạng).

Đầu tư vào nguồn nhân lực công nghệ tài chính: Xây dựng chương trình đào tạo chuyên sâu về công nghệ tài chính tại các trường đại học kinh tế và tài chính, nhằm đào tạo thế hệ chuyên gia hiểu sâu cả chiều công nghệ lẫn chiều tài chính. Đây là điều kiện nền tảng để thiết kế, vận hành và quản trị hệ sinh thái thanh toán thông minh một cách bền vững

Còn trong dài hạn từ năm 2030 trở đi, ông Trung cho rằng, cần xây dựng hạ tầng công nghệ nâng cao: Đầu tư vào R&D các công nghệ mới (Blockchain, AI phân tích giao dịch, bảo mật vững chắc) để nền tảng thanh toán luôn tiên tiến và đáng tin cậy.

Tích hợp thanh toán thông minh vào chương trình kinh tế liên ngành. Trong đó, triển khai theo thứ tự ưu tiên: tự động hóa nghiệp vụ để giải quyết trực tiếp vấn đề bức thiết của người dân; xây dựng hệ thống chỉ báo kinh tế tần suất cao từ dữ liệu thanh toán phục vụ điều hành vĩ mô; và xây dựng nền tảng dữ liệu du lịch quốc gia từ giao dịch thanh toán.

Doanh nghiệp một người: Động lực mới cho kinh tế số
Đề án “doanh nghiệp một người” mà Chính phủ đang nghiên cứu được kỳ vọng sẽ tháo gỡ rào cản pháp lý, thuế và hóa đơn, mở rộng cơ...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư