Chủ Nhật, Ngày 25 tháng 10 năm 2026,
Robot Việt đón cơ hội trên đường đua ngàn tỷ USD
Tú Ân - 25/10/2026 08:34
 
Thị trường robot toàn cầu mở ra dư địa tăng trưởng lớn, nhưng cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam phụ thuộc vào khả năng làm chủ công nghệ, phát triển năng lực sản xuất và kết nối nhu cầu thực tế với sản phẩm trong nước.

Đường đua hàng ngàn tỷ USD

Gần nửa đêm, tại Tổ hợp công nghệ chia chọn thông minh của Viettel Post ở Khu công nghiệp Quang Minh (Hà Nội), nhiều văn phòng đã tắt đèn, nhưng nhịp vận hành chưa có dấu hiệu chậm lại. Hàng trăm robot tự hành di chuyển giữa dòng hàng hóa, đưa bưu kiện đến đúng vị trí theo sự điều phối của hệ thống, với công suất xử lý 1,4 triệu bưu phẩm/ngày, có thể đạt 9.000 bưu kiện/giờ, độ chính xác phân loại lên đến 99,99%.

Còn tại Nhà máy VinFast Hải Phòng, cứ một giờ có 43 chiếc lăn bánh khỏi dây chuyền. Nhà máy này có 1.200 robot ABB, chia làm 3 ca linh hoạt, quy trình tự động hóa đến 90%.

Thị trường tự động hóa sản xuất Việt Nam được Market Research Outlook định giá 1,15 tỷ USD năm 2025 và dự báo đạt 3,12 tỷ USD vào năm 2032, tương ứng tốc độ tăng trưởng kép 15,4%.

Trang8-robot3 (4)
Robot hoạt động tại Tổ hợp công nghệ chia chọn thông minh của Viettel Post ở Khu công nghiệp Quang Minh (Hà Nội). Ảnh: Viettel Post

Ở phạm vi toàn cầu, báo cáo World Robotics 2025 của Liên đoàn Robot quốc tế (IFR) ghi nhận 603.000 robot công nghiệp được lắp đặt mới trong năm 2025, đưa tổng số robot công nghiệp đang hoạt động trên thế giới lần đầu tiên vượt mốc 5 triệu đơn vị. Châu Á chiếm 76% lượng lắp đặt mới, với những thị trường nổi bật như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ.

Những dự báo dài hạn còn mở ra một bức tranh lớn hơn. Goldman Sachs ước tính, thị trường robot hình người có thể đạt 138 tỷ USD vào năm 2035. Morgan Stanley dự báo, hệ sinh thái robot toàn cầu có thể đạt quy mô 5.000 tỷ USD vào năm 2050.

Việt Nam khó cạnh tranh ngay với các trung tâm robot hàng đầu thế giới về quy mô, vốn, dữ liệu và kinh nghiệm. Tuy nhiên, doanh nghiệp trong nước có thể bắt đầu từ những bài toán cụ thể như phân loại hàng hóa, kiểm tra lỗi sản phẩm, vận chuyển trong nhà máy và giám sát kho hàng. Những giải pháp được kiểm chứng hiệu quả có thể tiếp tục mở rộng sang các dây chuyền và ngành có nhu cầu tương đồng.

Ông Nguyễn Trung Quân, Giám đốc Khoa học của VinMotion cho rằng, Việt Nam có tiềm năng phát triển robot nhờ nhân lực công nghệ, năng lực sản xuất linh hoạt và khả năng bảo đảm an ninh, bảo mật. “Việt Nam có một nền sản xuất linh hoạt, phù hợp với việc sản xuất và cải tiến mẫu robot nhanh, chất lượng đảm bảo nhưng chi phí hợp lý”, ông Quân khẳng định.

Một hướng đi khác nằm ở việc kết hợp AI với robot để rút ngắn quá trình học hỏi và nâng cao năng lực sản xuất. TS. Nguyễn Văn Trường, Giám đốc Phần mềm và AI của VinMotion cho rằng, mô hình nhà máy hiện đại đang chuyển từ lợi thế dựa chủ yếu vào nhân công giá rẻ sang mô hình dựa trên hạ tầng tính toán, dữ liệu, AI, robot và tự động hóa.

Theo ông Trường, AI vision kết hợp với robot có thể hỗ trợ phát hiện khiếm khuyết, lỗi sản phẩm và xử lý những vấn đề trước đây phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của chuyên gia. Khi một giải pháp đã được kiểm chứng, doanh nghiệp có thể mở rộng dựa trên tri thức và nền tảng AI, thay vì phải bắt đầu lại toàn bộ quy trình.

“Không nhất thiết phải mất mấy chục năm để đào tạo một chuyên gia hàng đầu về kỹ thuật, mà có thể sử dụng AI vision kết hợp với robot để xử lý các vấn đề về khiếm khuyết và lỗi sản phẩm”, ông Trường nói.

Ông Đỗ Tiến Thịnh, Phó giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) nhận định, AI hiện thân có thể góp phần giải quyết tình trạng thiếu hụt nhân lực, nâng cao an toàn lao động và cải thiện chất lượng tăng trưởng. Tự động hóa cũng mở ra cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị robot ở các lĩnh vực như linh kiện, cơ khí chính xác và phần mềm tích hợp.

Theo TS. Byron Mason, Giảng viên cấp cao ngành Kỹ thuật robot và cơ điện tử tại Đại học RMIT, cơ hội khả thi nhất của Việt Nam trong ngắn hạn nằm ở các tầng công nghệ “gần với năng lực hiện có nhất” như điện tử, lắp ráp và kỹ thuật ứng dụng. Con đường phát triển robot tại Việt Nam trước mắt có thể không phải là những bước nhảy vọt gây chú ý, mà là quá trình tích lũy từ các phần việc cụ thể, như pin, hệ thống chuyển động, tích hợp và bảo trì.

Tuy nhiên, cơ hội vẫn chưa đồng nghĩa với một thị trường đã sẵn sàng cho sản phẩm nội địa. Theo PGS-TS. Chu Cẩm Thơ, Phó tổng giám đốc Đại học Phenikaa, mức độ tự động hóa và sử dụng robot tại doanh nghiệp Việt Nam hiện còn thấp, trong khi tỷ lệ doanh nghiệp tìm đến sản phẩm robot Make in Vietnam chưa cao.

“Một trong những nguyên nhân là chúng ta chưa kết nối được năng lực sản xuất, khả năng tự động hóa trong nước với nhu cầu của thị trường. Đồng thời, chúng ta cũng chưa tạo dựng được đủ niềm tin của người sử dụng đối với các sản phẩm này”, bà Thơ nhìn nhận.

Đề xuất phát triển ngành công nghiệp robot Việt Nam 

Cùng với Nghị quyết số 57-NQ/TW, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026 đưa công nghệ robot và tự động hóa vào Danh mục 10 nhóm công nghệ chiến lược ưu tiên phát triển.

Theo ông Đỗ Tiến Thịnh, chính sách phát triển robot cần tập trung vào 3 nhóm giải pháp: thể chế; nhân lực và nghiên cứu, phát triển; hạ tầng và thị trường.

Về thể chế, ông Thịnh đề xuất xây dựng chương trình quốc gia chuyên biệt cho AI hiện thân, hình thành các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) tại bệnh viện, nhà máy và đô thị, đồng thời sớm xây dựng hệ thống tiêu chuẩn an toàn phù hợp để phân loại rủi ro của robot.

Tự động hóa công nghiệp đang tiến triển với tốc độ rất cao. Mốc 5 triệu robot hoạt động hiện nay đã tăng hơn gấp đôi so với 7 năm trước. Trong đó, châu Á là khu vực ghi nhận mức tăng trưởng mạnh mẽ nhất, theo sau là châu Mỹ, còn châu Âu đang tiến chậm hơn.

- Bà Jane Heffner, Chủ tịch IFR

Về nhân lực và nghiên cứu, phát triển, cần đẩy mạnh đào tạo liên ngành theo hướng kết hợp AI với các lĩnh vực chuyên môn, như cơ điện tử và AI vật lý; hỗ trợ người lao động đào tạo lại kỹ năng để làm việc cùng robot; đồng thời xây dựng cơ chế đặt hàng nghiên cứu công nghệ lõi như cảm biến và chip xử lý tại biên cho các liên minh doanh nghiệp - viện nghiên cứu - trường đại học.

Về hạ tầng và thị trường, ông Thịnh đề xuất, phát triển các phòng thử nghiệm dùng chung phục vụ đo kiểm và bản sao số, xây dựng bộ dữ liệu vật lý mở, sử dụng nguồn lực mua sắm công để ưu tiên sản phẩm Make in Vietnam trong những dự án công cộng phù hợp, đồng thời thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn với mục tiêu kết nối doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng robot toàn cầu.

“Việc xác định được tầm nhìn là cần thiết, nhưng điều quan trọng hơn là Việt Nam phải có sự kiên trì trong đào tạo nhân lực, đầu tư cho nghiên cứu, tăng cường liên kết với doanh nghiệp, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và cải thiện cơ chế mua sắm công”, TS. Byron Mason nhận định.

Còn theo ông Trường, Việt Nam cần phát triển đồng thời 3 trụ cột: năng lực công nghệ để hấp thụ và làm chủ công nghệ mới; năng lực sản xuất để biến công nghệ thành sản phẩm; năng lực đổi mới, sáng tạo để tạo ra các giải pháp có bản sắc riêng. Giá trị của ngành công nghiệp robot không chỉ nằm ở sản phẩm hoàn chỉnh, mà còn ở năng lực thiết kế, chế tạo linh kiện, phát triển phần mềm, tích hợp hệ thống và bảo trì được hình thành trong quá trình phát triển.

Trong khi đó, PGS-TS. Chu Cẩm Thơ cho rằng, sản xuất robot theo mô hình “ba nhà” đòi hỏi sự đầu tư có tính hệ thống, từ nguồn nhu cầu đến khả năng cung cấp sản phẩm. Nhà nước có vai trò kiến tạo môi trường, hệ sinh thái để ba nhà cùng tham gia.

Đặc biệt, yếu tố sử dụng sản phẩm rất quan trọng. Trong cơ chế thị trường, người sử dụng có quyền quyết định lựa chọn sản phẩm tốt, hiệu quả và phù hợp với nhu cầu. Vì vậy, nếu không kết nối được nhu cầu thực tế với khả năng sản xuất, rất khó để ba nhà xây dựng niềm tin và gắn kết chặt chẽ.

“Theo tôi, phát triển robot cũng cần bắt đầu từ những bài toán thực tế của thị trường. Khi doanh nghiệp nhìn thấy nhu cầu, nhà nghiên cứu nhìn thấy cơ hội ứng dụng và đơn vị sản xuất nhìn thấy thị trường, hệ sinh thái mới có thể vận hành bền vững”, bà Thơ đề xuất.

Cơ hội thị trường có thể lên tới hàng ngàn tỷ USD, nhưng vị trí của Việt Nam không tự nhiên hình thành. Điều quyết định là khả năng kết nối nghiên cứu với sản xuất, công nghệ với nhu cầu và từng bước làm chủ những khâu có lợi thế. Đường đua robot vì thế không chỉ là cuộc cạnh tranh về sản phẩm, mà còn là cơ hội để Việt Nam nâng cấp nền tảng công nghiệp.

Khởi động chương trình cố vấn và đấu tập robotics 2026 cho giới trẻ
American Center Hanoi phối hợp cùng Liên minh Thúc đẩy Giáo dục STEM (SEPA) và đội SWITCH chính thức phát động Chương trình Cố vấn và Đấu tập...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư