Báo Đầu Tư
Thứ Ba, Ngày 03 tháng 11 năm 2026,
Xuất khẩu đến năm 2030: Tham vọng vượt mốc 1.040 tỷ USD
Thế Hoàng - 03/11/2026 09:52
  Print
Dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030 đặt mục tiêu xuất khẩu ở kịch bản cao đạt 1.041,1 tỷ USD, tăng hơn gấp đôi so với năm 2025 (475 tỷ USD). Tuy nhiên, thách thức đặt ra là tăng trưởng xuất khẩu phải đi đôi với củng cố nền tảng sản xuất trong nước.
Nguồn: Bộ Công thương
Nguồn: Bộ Công thương

3 kịch bản xuất khẩu đến năm 2030

Dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đang được Bộ Công thương xây dựng đặt ra mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn 2026 - 2030 khá tham vọng, bình quân 15-16%/năm, nhập khẩu tăng 12-13%/năm.

Cụ thể, Bộ Công thương đưa ra 3 kịch bản xuất khẩu đến năm 2030.

Theo đó, ở kịch bản cao, kim ngạch xuất khẩu năm 2030 hướng tới mốc 1.041,1 tỷ USD, kịch bản trung bình đạt 953,7 tỷ USD và kịch bản thấp là 765 tỷ USD.

Các kịch bản này đặt ra yêu cầu mở rộng quy mô xuất khẩu đi đôi với nâng cao năng lực sản xuất trong nước, phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo và tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Quy mô xuất khẩu tăng mạnh nhưng thách thức lớn nhất là nâng cao năng lực sản xuất trong nước, giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu và gia tăng giá trị giữ lại cho nền kinh tế.

Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt khoảng 475 tỷ USD. Như vậy, nếu đạt kịch bản cao, quy mô xuất khẩu năm 2030 sẽ tăng hơn gấp đôi sau 5 năm.

Sau hơn 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất khẩu tiếp tục ghi nhận đà tăng trưởng tích cực. Theo số liệu sơ bộ của Cục Hải quan, sau 9,5 tháng, kim ngạch xuất khẩu đạt 463,7 tỷ USD, tăng 25,9% so với cùng kỳ. Với đà tăng này, xuất khẩu có khả năng vượt mốc 490 tỷ USD vào cuối tháng 10.

Nếu duy trì kim ngạch xuất khẩu khoảng 55 - 56 tỷ USD mỗi tháng trong những tháng cuối năm, quy mô xuất khẩu năm nay có thể vượt 600 tỷ USD.

Để đưa quy mô xuất khẩu vượt 1.000 tỷ USD trong những năm tới, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng thị trường mà còn phải nâng cao năng lực công nghiệp chế biến, chế tạo và sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.

Cùng với mục tiêu tăng trưởng, dự thảo Chiến lược cũng hướng tới giảm phụ thuộc vào một số thị trường xuất khẩu, nhập khẩu lớn, qua đó hạn chế rủi ro trước các cú sốc thương mại.

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) cho rằng, cần cải thiện tình trạng mất cân đối thương mại với một số thị trường, khi nhập siêu từ Trung Quốc và xuất siêu sang Mỹ, EU có xu hướng gia tăng. Nguyên nhân là hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất của nhiều ngành hàng vẫn theo hướng nhập khẩu nguyên liệu từ Trung Quốc để phục vụ sản xuất, xuất khẩu.

Với quy mô ngoại thương dự kiến đạt 1.200 tỷ USD vào cuối năm 2026, độ mở kinh tế lớn khiến Việt Nam chịu tác động đáng kể từ biến động bên ngoài và những thay đổi trong chính sách thương mại của các nền kinh tế lớn. Do đó, nâng cao khả năng nhận diện, phòng ngừa, quản trị rủi ro và ứng phó với biến động thương mại quốc tế cũng là một trong những nội dung trọng tâm của dự thảo Chiến lược.

Tăng tỷ trọng đóng góp của doanh nghiệp trong nước

Xuất khẩu tăng trưởng cao nhưng tỷ trọng đóng góp của khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn còn khiêm tốn, trong khi khu vực FDI ngày càng giữ vai trò chủ đạo.

Năm 2025, doanh nghiệp trong nước đóng góp khoảng 23% tổng kim ngạch xuất khẩu, còn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 77%. Đến gần 10 tháng năm 2026, tỷ trọng tương ứng là 19,3% và 80,7%.

Sự mất cân đối trong tỷ trọng xuất khẩu giữa hai khu vực doanh nghiệp ngày càng rõ nét, phản ánh năng lực tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam chưa theo kịp tốc độ mở rộng chung của nền kinh tế.

Khu vực FDI hiện là trụ cột trong xuất khẩu. Nếu trước đây, khu vực này chiếm hơn 70% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam thì hiện nay, tỷ trọng đã vượt 80%.

Để thu hẹp khoảng cách này, dự thảo Chiến lược đặt mục tiêu nâng tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp trong nước lên 28 - 30% vào năm 2030 và 38 - 40% vào năm 2045, đồng thời nâng cao hàm lượng chế biến, khoa học và công nghệ trong sản phẩm xuất khẩu.

Cùng với đó, đa dạng hóa thị trường và hài hòa cán cân thương mại cũng là những nhiệm vụ quan trọng. Giai đoạn 2026 - 2030, cán cân thương mại hướng tới thặng dư bền vững, với tỷ trọng xuất siêu trên tổng kim ngạch xuất khẩu bình quân đạt 3 - 6%. Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu nằm trong nhóm 10 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu lớn nhất thế giới.

Dự thảo Chiến lược chỉ rõ, cán cân thương mại cần được theo dõi gắn với cơ cấu sản xuất và thị trường. Thực tế, Việt Nam có xu hướng nhập siêu ngày càng lớn từ Trung Quốc, trong khi xuất siêu sang Mỹ, EU và một số thị trường khác. Xu hướng này đặt ra rủi ro đối với mục tiêu tăng trưởng xuất nhập khẩu bền vững, nhất là khi chuỗi cung ứng hoặc chính sách thương mại của các thị trường lớn có biến động.

Ngoài ra, dự thảo Chiến lược cũng đặt mục tiêu nâng tỷ trọng hàng chế biến hoặc đã qua tinh chế trong tổng kim ngạch xuất khẩu lên 89 - 90% vào năm 2030 và trên 92% vào năm 2045. Tỷ lệ giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị xuất khẩu hàng chế biến, chế tạo dự kiến đạt khoảng 50% vào năm 2030 và trên 55% vào năm 2045.

Xuất khẩu tăng phải đi kèm với nền tảng sản xuất

Trong hơn một thập kỷ qua, năng lực sản xuất trong nước đã chuyển biến rõ nét nhờ thu hút dòng vốn FDI, góp phần hình thành những ngành sản xuất và xuất khẩu có quy mô hàng trăm tỷ USD, điển hình là điện tử, máy tính, máy móc và thiết bị.

Việt Nam hiện là một trung tâm sản xuất điện tử quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, với kim ngạch xuất khẩu của ngành đạt quy mô lớn. Dòng vốn FDI tiếp tục chảy vào Việt Nam, hình thành thêm các nhà máy và mở rộng năng lực xuất khẩu. Tuy nhiên, ở nhiều lĩnh vực, hoạt động sản xuất vẫn chủ yếu tập trung vào khâu lắp ráp, phụ thuộc đáng kể vào vật tư, linh kiện nhập khẩu, trong khi khả năng cung ứng của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế.

Thực tế này thể hiện rõ qua cán cân thương mại của nhóm hàng máy tính, điện tử và linh kiện. Trong gần 10 tháng đầu năm 2026, nền kinh tế ghi nhận nhập siêu 17,6 tỷ USD. Riêng nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu dẫn đầu này đạt tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 336,3 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 135,3 tỷ USD nhưng nhập khẩu lên tới 201 tỷ USD, nhập siêu 65,7 tỷ USD.

Những con số trên cho thấy quy mô xuất khẩu lớn chưa đồng nghĩa với khả năng tự chủ cao của nền sản xuất.

Khi nguồn cung linh kiện, vật tư và thiết bị phụ thuộc nhiều vào thị trường bên ngoài, biến động chuỗi cung ứng quốc tế có thể tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất trong nước. Đồng thời, khả năng giữ lại giá trị gia tăng trong nền kinh tế cũng phụ thuộc vào mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào các công đoạn sản xuất.

Ông Phạm Văn Quân, Phó cục trưởng Cục Công nghiệp nhấn mạnh, mở rộng quy mô xuất khẩu cần đi cùng quá trình củng cố nền tảng sản xuất. Điều này giúp nâng cao chất lượng tăng trưởng, giảm sự phụ thuộc vào nguồn cung đầu vào từ thị trường bên ngoài.

“Chỉ khi doanh nghiệp trong nước có khả năng cung ứng linh kiện, nguyên phụ liệu và sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, mức độ chủ động của chuỗi sản xuất mới được cải thiện, qua đó doanh nghiệp có cơ hội tham gia sâu hơn vào các mạng lưới cung ứng quốc tế”, ông Quân nói.

Theo các chuyên gia thương mại, với quy mô vốn FDI thực hiện lớn, năng lực sản xuất ngày càng được củng cố, độ mở kinh tế cao và mạng lưới 18 hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết, thực thi, Việt Nam có cơ sở để tiếp tục mở rộng kim ngạch xuất khẩu trong những năm tới. Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng phía sau những con số ấn tượng mới là vấn đề cần quan tâm.

Ngành thủy sản, dự kiến hướng tới mục tiêu xuất khẩu 12 tỷ USD trong năm 2026, cũng đề xuất nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng. Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho rằng, để nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế, ngành không thể chỉ dựa vào những lợi thế sẵn có. Doanh nghiệp cần chính sách hỗ trợ để đầu tư mạnh hơn về nguyên liệu, đẩy mạnh chế biến, nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu của khách hàng và gia tăng giá trị sản phẩm.

Mục tiêu xuất khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD vào năm 2030 có thể đạt được khi Việt Nam tiếp tục là cứ điểm sản xuất của nhiều tập đoàn, doanh nghiệp toàn cầu. Nhưng bên cạnh đó phải là lộ trình tăng tốc để doanh nghiệp nội địa trưởng thành hơn về quy mô, đủ năng lực tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất của khu vực FDI và chuỗi cung ứng toàn cầu. Mục tiêu cuối cùng là xuất khẩu gia tăng phải tương xứng với giá trị thực sự mang lại cho nền kinh tế.

Xuất khẩu ống đồng sang EU vướng phòng vệ thương mại tạm thời
Xuất khẩu ống đồng sang EU vướng phòng vệ thương mại tạm thời
Ủy ban châu Âu (EUC vừa thông báo mức thuế chống bán phá giá tạm thời đề xuất đối với sản phẩm ống đồng nhập khẩu từ Việt Nam từ 12,4%...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư