Thứ Sáu, Ngày 29 tháng 05 năm 2026,
Chủ tịch Viettel Tào Đức Thắng: Viettel đang R&D công nghệ lượng tử, vật liệu tiên tiến
Hữu Tuấn - 29/05/2026 10:50
 
Báo Tài chính – Đầu tư đã có cuộc trao đổi với ông Tào Đức Thắng – Chủ tịch Tập đoàn Viettel về chiến lược, lộ trình phát triển những công nghệ chiến lược quốc gia như công nghệ lượng tử, vật liệu tiên tiến, bán dẫn, AI…

Đi từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp, từ làm chủ đến tự chủ

Công nghệ lượng tử, vật liệu tiên tiến… là  những công nghệ chiến lược quốc gia quan trọng được Đảng và Nhà nước yêu cầu nghiên cứu và phát triển (R&D), ứng dụng, thương mại hóa. Viettel có kế hoạch như thế nào đối với các công nghệ chiến lược này, thưa ông?

Các công nghệ chiến lược như lượng tử, bán dẫn, vật liệu tiên tiến… đều là những lĩnh vực đặc biệt quan trọng đối với tương lai phát triển của đất nước. Định hướng phát triển của Đảng và Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn. Vấn đề cốt lõi đang nằm ở cách đi và lộ trình đi như thế nào, bởi sẽ không có chuyện các công nghệ lõi như chế tạo chip bán dẫn được chuyển giao một cách dễ dàng. Vì vậy, Việt Nam buộc phải xác định con đường tự chủ, từng bước đi lên bằng chính năng lực của mình. 

Kinh nghiệm của Viettel là vừa làm vừa phối hợp. Chúng tôi đi theo lộ trình tuần tự: từ điện tử, viễn thông, 4G rồi phát triển lên 5G. Đến nay, thiết bị mạng của Viettel đã được đưa ra thị trường nước ngoài và thử nghiệm ở quy mô vài triệu dân.

Trung tướng Tào Đức Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel.

Quan điểm của chúng tôi là doanh nghiệp không thể thay thế vai trò của Viện nghiên cứu hay Trường đại học, mà phải phối hợp chặt chẽ với họ để làm chủ công nghệ. Chẳng hạn, muốn phát triển công nghệ lượng tử thì phải thực sự hiểu vật lý lượng tử, công nghệ vật liệu, radar hay vệ tinh đều dựa trên nền tảng vật lý cơ bản. Các trường và viện nghiên cứu đóng vai trò đào tạo đội ngũ từ gốc, từ sinh viên trở đi, để doanh nghiệp có thể đi xa hơn.

Viettel luôn lựa chọn cách tiếp cận "đi từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp, từ làm chủ đến tự chủ": bắt đầu bằng mô phỏng, làm mẫu thử quy mô nhỏ rồi từng bước làm chủ. Phần nào có thể tự làm thì chủ động triển khai; phần nào chưa làm được thì hợp tác, trao đổi với các đối tác phù hợp.

Quan trọng nhất là phải xác định mục tiêu rất rõ ràng, đặc biệt là gắn công nghệ chiến lược với sản phẩm chiến lược cụ thể. Một sản phẩm có thể tích hợp nhiều công nghệ, nhưng khi đặt mục tiêu cụ thể thì việc tổ chức nghiên cứu, triển khai sẽ rõ ràng và khả thi hơn rất nhiều.

Vậy, Viettel đang tham gia R&D các công nghệ chiến lược, sản phẩm chiến lược quốc gia nào?
Theo định hướng về danh mục công nghệ chiến lược quốc gia, có nhiều nhóm công nghệ đi kèm với danh mục sản phẩm chiến lược tương ứng. Trong số đó, Viettel đã đăng ký tham gia ở nhiều lĩnh vực như bán dẫn, công nghệ lượng tử, 5G/6G, trí tuệ nhân tạo (AI), UAV, vật liệu tiên tiến…

Danh mục sản phẩm chiến lược hiện được chia thành hai nhóm lớn. Nhóm thứ nhất là những sản phẩm có thể nhanh chóng đưa vào ứng dụng do thị trường đã hình thành rõ nét, như AI, y tế, nông nghiệp hay vật liệu. Nhóm thứ hai là các sản phẩm chiến lược mang tính tương lai, chẳng hạn như vệ tinh.

Song song với đó còn có các nhiệm vụ về công nghệ không gian. Riêng lĩnh vực vật liệu, đặc biệt là vật liệu tiên tiến, chúng tôi đánh giá đây là nền tảng cực kỳ quan trọng và đang tập trung nghiên cứu mạnh.

Với những công nghệ rất khó như lượng tử, quan điểm của Viettel là phải hiểu thật sâu bản chất khoa học, chứ không thể chỉ tiếp cận qua thông tin phổ thông. Tập đoàn hiện đang hỗ trợ nhiều đề tài nghiên cứu, phối hợp với các viện nghiên cứu và xác định phải đào tạo đội ngũ bài bản trước khi triển khai trên diện rộng.

Ông đánh giá, nhìn nhận về cơ hội và thách thức của Việt Nam khi R&D công nghệ lượng tử như thế nào?
Tôi cho rằng, công nghệ lượng tử vừa mang lại cơ hội lớn, vừa tiềm ẩn nhiều thách thức.

Lợi ích nổi bật nhất là năng lực tính toán cực nhanh, giúp giải những bài toán mà máy tính thông thường rất khó xử lý, chẳng hạn phân tích gen hay phát hiện sớm tế bào ung thư từ khi mới xuất hiện vài tế bào bất thường.

Điều cần hiểu đúng là máy tính lượng tử không phải là một chiếc máy tính thông thường có màn hình, RAM hay ROM. Đây thực chất là một phương pháp tính toán hoàn toàn khác.

Máy tính truyền thống sử dụng bit, tại mỗi thời điểm chỉ tồn tại ở trạng thái 0 hoặc 1. Trong khi đó, máy tính lượng tử dùng qubit (bit lượng tử) – có thể đồng thời đại diện cho rất nhiều trạng thái trong cùng một thời điểm. Khi số lượng qubit tăng lên hàng nghìn, khả năng biểu diễn trạng thái sẽ cực kỳ lớn.

Khi máy tính lượng tử phát triển, an ninh mạng sẽ đối mặt nguy cơ lớn. Đây có phải cơ hội để Viettel phát triển các giải pháp bảo mật?

Nguy cơ lớn nhất là khả năng giải mã dữ liệu.

Hiện nay, dữ liệu truyền trên mạng được bảo vệ bằng các thuật toán mã hóa như RSA, vốn dựa trên những bài toán toán học mà máy tính thông thường cần thời gian rất dài mới có thể phá giải. Tuy nhiên, với máy tính lượng tử, tốc độ giải mã có thể nhanh hơn rất nhiều.

Điều đáng lo ngại là tin tặc hoàn toàn có thể thu thập dữ liệu mã hóa từ bây giờ để chờ giải mã trong tương lai khi công nghệ lượng tử trưởng thành hơn.

Do đó, hướng đi quan trọng hiện nay là mật mã hậu lượng tử – Post-Quantum Cryptography (PQC). Đây sẽ là cơ hội rất lớn cho các doanh nghiệp an ninh mạng Việt Nam, trong đó có Viettel, phát triển các giải pháp bảo mật thế hệ mới song song với năng lực AI.

Trong nhà máy chip bán dẫn hay lĩnh vực lượng tử, trí tuệ và giá trị của người Việt, của Viettel nằm ở đâu?
Về tổng thể, chuỗi sản xuất chip gồm ba khâu chính: thiết kế, chế tạo sản xuất chip và đóng gói – kiểm thử.

Hiện nay Việt Nam chủ yếu tham gia ở khâu thiết kế cùng đóng gói – kiểm thử. Riêng khâu thiết kế đang được nhiều đơn vị triển khai, trong đó có Viettel với đội ngũ kỹ sư người Việt tại Đà Nẵng, TP.HCM…

Giá trị cốt lõi mà người Việt tạo ra nằm ở thiết kế chip theo nhu cầu sử dụng thực tế: chip cho máy chủ, IoT, xử lý biên hay chip nguồn.

Khâu chế tạo wafer là phần cực kỳ khó, chưa thể tự chủ ngay bởi muốn đúc chip phải xếp hàng trong chuỗi cung ứng toàn cầu và cần thời gian rất dài. Vì vậy, nhà máy của Viettel trước mắt đóng vai trò phát triển năng lực thiết kế – nơi thể hiện rõ nhất trí tuệ Việt Nam.

Với những lĩnh vực rất mới như công nghệ lượng tử, vật liệu mới Viettel thu hút chuyên gia Việt kiều, chuyên gia nước ngoài như thế nào?
Chúng tôi có các chính sách nhằm thu hút nhân tài, bao gồm cả chuyên gia nước ngoài. Tuy nhiên, đi cùng với đó là cơ chế bố trí phù hợp theo từng khu vực công việc và hệ thống đánh giá, kiểm soát chặt chẽ đối với các vị trí quan trọng.

Ví dụ, những kỹ sư có trình độ cao có thể tham gia các mảng về mạng lưới hoặc các dự án công nghệ chiến lược tùy theo năng lực chuyên môn và yêu cầu bảo mật.

Phải tạo được đầu ra cho sản phẩm

Theo quan điểm của ông, để phát triển công nghệ lõi, tự chủ công nghệ chiến lược thì Việt Nam có cần hình thành những tập đoàn công nghệ chủ lực để dẫn dắt không?
Theo tôi là rất cần thiết. Muốn phát triển những ngành như bán dẫn thì phải kéo theo cả hệ sinh thái phía sau, từ vật liệu đến hóa chất và các công nghiệp phụ trợ.

Giá trị lớn nhất nằm ở việc làm chủ chuỗi giá trị, cả theo chiều dọc lẫn chiều ngang. Nếu chỉ tham gia một công đoạn nhỏ như lắp ráp hay đóng gói cuối cùng thì giá trị tạo ra cho nền kinh tế sẽ rất hạn chế.

Vì vậy, Việt Nam cần hình thành các ngành công nghiệp nền tảng như vật liệu, hóa chất… cùng với những doanh nghiệp chủ lực có khả năng dẫn dắt để tối đa hóa giá trị gia tăng ở từng khâu.

Tôi cũng đánh giá rất cao những chuyển động tích cực gần đây khi nhiều bộ, ngành đã chủ động mời doanh nghiệp tham gia định hướng công nghệ. Chẳng hạn trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, Viettel có thể tham gia các hệ thống thông tin điều khiển, phủ sóng 5G trên các tuyến cao tốc. Tinh thần chung hiện nay là rất khẩn trương và không còn sự trì trệ như trước.

Ông Tào Đức Thắng tại cuộc làm việc với Bộ trưởng Bộ Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh và đoàn công tác tìm hiểu năng lực nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Viettel; Trao đổi khả năng phối hợp triển khai các nhiệm vụ công nghệ chiến lược trong lĩnh vực giao thông.

Theo ông, có những cơ chế chính sách như thế nào để khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư cho đổi mới sáng tạo, R&D?
Theo tôi, yếu tố quan trọng nhất là phải tạo được đầu ra cho sản phẩm. Khi có thị trường tiêu thụ rõ ràng, doanh nghiệp sẽ tự bỏ vốn đầu tư nghiên cứu và phát triển.

Đầu ra lại phụ thuộc rất lớn vào cơ chế chính sách, đặc biệt là hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Khi Nhà nước ban hành yêu cầu bắt buộc, thị trường sẽ lập tức hình thành. Giống như trước đây, khi quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm được áp dụng, ngành sản xuất mũ bảo hiểm đã phát triển rất nhanh.

Tôi cho rằng thay vì cấp tiền trực tiếp cho doanh nghiệp nghiên cứu một sản phẩm chưa rõ bán cho ai, Nhà nước có thể áp dụng cơ chế “voucher”, tức hỗ trợ phía cầu để người mua lựa chọn sản phẩm công nghệ trong nước. Khi đó doanh nghiệp sẽ buộc phải làm ra sản phẩm tốt, cạnh tranh thực sự để bán được hàng, thay vì chỉ trông chờ vào nguồn vốn nghiên cứu.

Tất nhiên, đối với những công nghệ nền tảng và mang tính tương lai như vệ tinh, bán dẫn hay công nghệ hạt nhân – nơi thị trường đầu ra chưa hình thành – thì Nhà nước vẫn cần đóng vai trò đầu tư để nâng cao tiềm lực quốc gia.

Một thực tế là nhiều sản phẩm công nghệ “Make in Vietnam” vẫn chưa được các doanh nghiệp trong nước sử dụng rộng rãi dù Nghị quyết 57 đã nhấn mạnh ưu tiên sản phẩm nội địa. Ông nhìn nhận thế nào?
Đây thực sự là một vấn đề lớn và đã được nhận diện khá rõ.

Nguyên nhân đầu tiên nằm ở giá thành. Khi sản xuất với số lượng nhỏ – vài nghìn hay vài chục nghìn thiết bị – thì chi phí nghiên cứu, nhà xưởng, nhân công… phải phân bổ trên quy mô thấp, khiến giá sản phẩm cao hơn rất nhiều so với sản xuất hàng triệu thiết bị. Vì vậy, cần có cơ chế hỗ trợ từ phía người mua.

Nguyên nhân thứ hai là các quy định trong đấu thầu. Nhiều tiêu chí hiện nay như yêu cầu “hợp đồng tương tự” hay kinh nghiệm nhiều năm vô hình trung tạo ra rào cản cho sản phẩm Việt Nam.

Có những sản phẩm doanh nghiệp trong nước hoàn toàn làm được nhưng lại không thể bán vì chưa từng có hợp đồng quy mô lớn để chứng minh năng lực. Điều đó cũng giống như yêu cầu sinh viên mới ra trường phải có nhiều năm kinh nghiệm làm việc. Đây là những điểm cần được sửa đổi nếu muốn ưu tiên thực chất cho sản phẩm công nghệ trong nước.

Nghị quyết 57 đề cao tinh thần chủ động, thần tốc và chấp nhận rủi ro. Theo ông, cần cụ thể hóa tinh thần này như thế nào?
Năm 2026 có rất nhiều nhiệm vụ lớn liên quan đến công nghệ chiến lược, sản phẩm chiến lược và Nghị quyết 57. Đi cùng với đó là những cơ chế rất đáng chú ý, đặc biệt là cơ chế đánh giá – yếu tố tạo động lực rất lớn cho đội ngũ nghiên cứu chứ không chỉ đơn thuần là nguồn vốn.

“Chủ động” nghĩa là mỗi cá nhân, mỗi nhóm nghiên cứu phải tự đề xuất hướng đi, tự tìm giải pháp, bởi lãnh đạo không thể nghĩ thay tất cả. Không đi được con đường này thì phải chủ động tìm con đường khác.

“Thần tốc” là tinh thần làm việc liên tục, khẩn trương và quyết liệt.

Còn “táo bạo” không đồng nghĩa với liều lĩnh. Táo bạo vẫn phải đi cùng hiệu quả, tránh rơi vào mạo hiểm cực đoan.

Tựu trung lại, đây là giai đoạn cần khuyến khích đội ngũ nghiên cứu mạnh dạn dấn thân, yên tâm thử sức với những công nghệ mới và những lĩnh vực chưa từng có tiền lệ.

Xin cảm ơn ông!

Nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam sẽ hoạt động từ năm 2027
Ngày 16/1, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) chính thức khởi công xây dựng nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên tại Việt...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư