-
Quảng Ninh: Quy hoạch hoàn thiện, mở đường cho các dự án quy mô lớn -
Quảng Trị: Nhiều đơn vị chậm giải ngân vốn đầu tư công kéo dài -
Củng cố sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam -
Khu kinh tế Nam Phú Yên đánh thức cực tăng trưởng mới phía Đông Đắk Lắk -
Thu hút FDI công nghệ cao: Muốn giữ "đại bàng", phải có những "khu rừng xanh"
![]() |
| TS. Nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, nay là Cục Thống kê (Bộ Tài chính) |
Năm 2026 đánh dấu tròn 40 năm Việt Nam mở cửa nền kinh tế, thu hút vốn FDI. Theo ông, đâu là những thành tựu nổi bật nhất mà khu vực FDI đã mang lại cho nền kinh tế Việt Nam?
Quyết định mở cửa thu hút FDI là một trong những chủ trương đúng đắn và có ý nghĩa chiến lược nhất của Đảng và Nhà nước trong tiến trình đổi mới đất nước. Nhìn lại 40 năm qua, khu vực FDI đã tạo ra chuyển biến rất sâu sắc với nền kinh tế trên nhiều phương diện.
Trước hết, khu vực FDI đã bổ sung nguồn lực quan trọng cho đầu tư phát triển khi nền kinh tế còn rất thiếu vốn. Những năm đầu đổi mới, dòng vốn FDI đã góp phần bổ sung nguồn lực đầu tư, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tạo nền tảng để Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới.
Quan trọng hơn, FDI không chỉ mang theo vốn, mà còn mang đến công nghệ, phương thức quản trị hiện đại, tiêu chuẩn sản xuất quốc tế và mạng lưới thị trường toàn cầu. Đây là những yếu tố có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam.
Một dấu ấn rất rõ là khu vực FDI trở thành động lực quan trọng của xuất khẩu. Từ chỗ chủ yếu xuất khẩu nông sản và hàng sơ chế, Việt Nam đã hình thành được nhiều ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quy mô lớn, tham gia sâu hơn chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhiều tập đoàn đa quốc gia lựa chọn Việt Nam là cứ điểm sản xuất đã góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Khu vực FDI cũng tạo ra hàng triệu việc làm trực tiếp và gián tiếp, góp phần nâng cao trình độ tay nghề của người lao động, thúc đẩy quá trình đô thị hóa, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng và hình thành nhiều trung tâm công nghiệp mới. Nhiều địa phương trước đây chủ yếu sản xuất nông nghiệp như Bắc Ninh, Thái Nguyên, Đồng Nai… đã trở thành các cực tăng trưởng công nghiệp, dịch vụ nhờ thu hút hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Thưa ông, giá trị mà đầu tư nước ngoài đem lại còn là động lực thúc đẩy Việt Nam cải cách thể chế kinh tế mạnh mẽ?
Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận là nền kinh tế có sự thay đổi thể chế rất mạnh mẽ, đặc biệt trong hơn 10 năm trở lại đây. Năm 2026, Chính phủ nhiệm kỳ mới không chỉ tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế, mà còn mạnh dạn bãi bỏ hầu hết các điều kiện kinh doanh không cần thiết, không rõ ràng; chuyển đổi phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm; thay thế các điều kiện về bằng cấp, cơ sở vật chất bằng tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn nghề.
Đặc biệt, cùng với cải cách hệ thống, tổ chức bộ máy hành chính và hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, Chính phủ thực hiện phân cấp mạnh mẽ, trao quyền cho địa phương giải quyết thủ tục để tránh tình trạng “cắt giảm cấp trên, phát sinh ở cấp dưới”.
Ở góc độ vĩ mô, FDI góp phần thúc đẩy cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao mức độ hội nhập quốc tế của Việt Nam. Quá trình thu hút các nhà đầu tư lớn tạo sức ép tích cực buộc chúng ta phải hoàn thiện pháp luật, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và từng bước tiếp cận các chuẩn mực quản trị quốc tế.
Sau 40 năm đổi mới và mở cửa, khu vực FDI đã không ngừng phát triển, không chỉ bổ sung nguồn lực đầu tư quan trọng, mà còn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực, mở rộng thị trường xuất khẩu, từng bước đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, tiếp nhận công nghệ, phương thức quản trị tiên tiến và góp phần rất quan trọng trong công cuộc cải cách thể chế.
Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào quy mô vốn đăng ký, vốn thực hiện hay kim ngạch xuất khẩu, thì vẫn chưa phản ánh đầy đủ chất lượng của dòng vốn FDI. Sau 40 năm, điều cần đánh giá không chỉ là khu vực FDI đã mang lại bao nhiêu vốn, mà quan trọng hơn là đã giúp nền kinh tế Việt Nam nâng cao được năng lực nội sinh đến mức nào. Đây chính là yêu cầu đặt ra trong giai đoạn phát triển mới.
![]() |
| Dây chuyền sản xuất, lắp ráp trong Nhà máy ô tô Honda tại Việt Nam. Ảnh: Đức Thanh |
Bên cạnh những thành tựu rất đáng ghi nhận, theo ông, đâu là những hạn chế lớn nhất sau 40 năm thu hút FDI mà Việt Nam vẫn chưa khắc phục được?
Theo tôi, điều đáng tiếc nhất sau 40 năm thu hút FDI là hiệu ứng lan tỏa đối với khu vực doanh nghiệp trong nước chưa đạt kỳ vọng. Chúng ta đã thu hút được nhiều tập đoàn đa quốc gia lớn, nhưng mức độ liên kết với doanh nghiệp Việt còn khá lỏng lẻo. Tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều ngành công nghiệp vẫn thấp, giá trị gia tăng tạo ra trong nước chưa cao và năng lực tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế.
Nói cách khác, trong nhiều trường hợp, Việt Nam chủ yếu đảm nhận các công đoạn gia công, lắp ráp, kiểm thử, đóng gói có giá trị gia tăng thấp, trong khi các khâu nghiên cứu, thiết kế, phát triển sản phẩm, sở hữu công nghệ, thương hiệu và hệ thống phân phối toàn cầu nằm ở các doanh nghiệp FDI. Đây là nguyên nhân khiến năng suất lao động và giá trị gia tăng của nền kinh tế chưa được cải thiện tương xứng với quy mô thu hút FDI.
Chúng ta kỳ vọng FDI sẽ tạo ra sự lan tỏa mạnh mẽ về công nghệ, kỹ năng quản trị và đổi mới sáng tạo, nhưng thực tế, quá trình này diễn ra chậm hơn dự kiến. Nguyên nhân không hoàn toàn thuộc về phía nhà đầu tư nước ngoài, mà còn xuất phát từ năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp trong nước còn yếu, quy mô nhỏ, trình độ quản trị và năng lực nghiên cứu - phát triển còn hạn chế.
Bên cạnh đó, trong thời gian khá dài, tư duy thu hút FDI vẫn nặng về số lượng dự án, quy mô vốn đăng ký và tốc độ giải ngân. Cạnh tranh giữa các địa phương nhiều khi tập trung vào ưu đãi thuế, đất đai hay chi phí đầu vào, trong khi chưa đặt ra đầy đủ các yêu cầu về chuyển giao công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa, đào tạo nhân lực hay liên kết với doanh nghiệp trong nước. Cách tiếp cận này khiến hiệu quả lan tỏa của khu vực FDI chưa tương xứng với kỳ vọng.
Chính vì vậy, cùng với Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW mở ra tư duy phát triển FDI thế hệ mới?
Sau 40 năm, Việt Nam đã ở một vị thế rất khác so với thời kỳ đầu đổi mới. Chúng ta không còn đặt câu hỏi làm thế nào để có thêm vốn đầu tư nước ngoài, mà phải trả lời câu hỏi khó hơn rất nhiều là làm thế nào sử dụng hiệu quả nguồn lực bên ngoài để làm mạnh nội lực của nền kinh tế, nâng cao năng lực công nghệ, sức cạnh tranh và khả năng tự chủ chiến lược của đất nước.
Đó cũng chính là tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo tôi, đây không đơn thuần là một nghị quyết về thu hút FDI, mà là một nghị quyết về phát triển đất nước trong bối cảnh mới, trong đó FDI được đặt vào vị trí là động lực thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, chứ không chỉ là nguồn vốn bổ sung cho đầu tư phát triển như trước.
Nếu Nghị quyết số 50-NQ/TW năm 2019 đánh dấu bước chuyển từ tư duy “thu hút FDI bằng mọi giá” sang “thu hút có chọn lọc”, thì Nghị quyết số 10-NQ/TW tiếp tục tạo ra một bước phát triển mới về tư duy, khi coi FDI không chỉ là nguồn lực bổ sung cho tăng trưởng, mà trở thành động lực thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế.
Theo ông, đâu là điểm đột phá trong thu hút vốn nước ngoài trong Nghị quyết số 10-NQ/TW?
Tôi cho rằng, điểm mới rất đáng chú ý có thể coi là đột phá của Nghị quyết số 10-NQ/TW là đã đặt khu vực FDI trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, gắn với mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở hội nhập quốc tế sâu rộng. Tự chủ ở đây không phải là khép kín hay giảm hội nhập, mà là nâng cao khả năng chống chịu, thích ứng và tạo ra ngày càng nhiều giá trị gia tăng ngay trong nền kinh tế Việt Nam.
Một điểm đột phá khác là Nghị quyết số 10-NQ/TW chuyển tư duy từ lựa chọn dự án đầu tư sang kiến tạo hệ sinh thái đầu tư. Nếu trước đây, chúng ta chủ yếu quan tâm dự án đầu tư bao nhiêu vốn, sử dụng bao nhiêu lao động, thì nay cần quan tâm dự án đó sẽ tham gia vào hệ sinh thái nào, có tạo được mạng lưới doanh nghiệp vệ tinh hay không, có hình thành trung tâm nghiên cứu - phát triển, đổi mới sáng tạo, đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ hay không.
Tôi đặc biệt đánh giá cao việc Nghị quyết số 10-NQ/TW lần đầu tiên đặt mục tiêu thu hút các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới không chỉ đến sản xuất, mà còn đặt trụ sở điều hành, trung tâm nghiên cứu - phát triển, trung tâm đổi mới sáng tạo tại Việt Nam. Khi đó, chúng ta không còn chỉ tham gia vào khâu gia công, lắp ráp, mà sẽ từng bước tham gia vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Tôi cho rằng, tinh thần cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQ/TW đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khái quát rất súc tích: thu hút đầu tư nước ngoài không phải để thay thế nội lực, mà để làm mạnh nội lực; không chỉ để tăng trưởng nhanh, mà để phát triển bền vững, bao trùm và có chất lượng cao. Đây không chỉ là định hướng cho chính sách FDI, mà còn là tư duy phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới.
-
Chuyển đổi tư duy phát triển khu vực FDI thế hệ mới -
Củng cố sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam -
Khu kinh tế Nam Phú Yên đánh thức cực tăng trưởng mới phía Đông Đắk Lắk -
Thu hút FDI công nghệ cao: Muốn giữ "đại bàng", phải có những "khu rừng xanh" -
Đề xuất đầu tư sớm Nhà ga hành khách T2 Cảng hàng không quốc tế Liên Khương -
Sửa đổi, bổ sung điều kiện thành lập, mở rộng cụm công nghiệp -
Dự án Cảng hàng không Quảng Trị đã cơ bản hoàn thành giải phóng mặt bằng
-
ILaby Baby - Hành trình đồng hành cùng con từ những tháng đầu đời -
Hansgrohe 125 tuổi tái khẳng định cam kết dài hạn tại thị trường Việt Nam -
Arcadia at Lavila công bố ưu đãi đặc quyền cho khách hàng tiên phong -
Amalga ra mắt tại Việt Nam, thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành y tế -
TKV duy trì ổn định sản xuất kinh doanh, lợi nhuận 7 tháng đầu năm vượt kế hoạch -
Dai-ichi Life Việt Nam triển khai chương trình khuyến mại “20 năm đồng hành bảo vệ triệu yêu thương”


