Báo Đầu Tư
Thứ Ba, Ngày 27 tháng 10 năm 2026,
Hơn 10.400 cơ sở nhà, đất công chưa hoàn thành xử lý, TP.HCM mới đạt 5%
Hồng Vân - 27/10/2026 09:38
  Print
Theo dữ liệu do Bộ Tài chính cung cấp, cả nước có 31.530 cơ sở nhà, đất thuộc diện phải xử lý, trong đó 10.403 cơ sở chưa hoàn thành xử lý, khai thác, với chênh lệch đáng kể giữa khối bộ, cơ quan Trung ương và các địa phương.

Địa phương còn 9.608 cơ sở nhà, đất chưa xử lý xong

Số liệu thống kê đến ngày 26/10/2026 cho thấy, khối địa phương có 26.415 cơ sở nhà, đất thuộc diện phải xử lý, trong đó 16.807 cơ sở đã hoàn thành, đạt 63,6%. Như vậy, còn 9.608 cơ sở chưa hoàn thành xử lý, khai thác, chiếm hơn 36% tổng số cơ sở thuộc diện rà soát.

Trong khi đó, khối bộ, cơ quan Trung ương có 5.115 cơ sở nhà, đất cần xử lý. Đến thời điểm báo cáo, 4.320 cơ sở đã hoàn thành, đạt 84,5%; còn 795 cơ sở chưa hoàn thành.

Như vậy, tỷ lệ hoàn thành của khối Trung ương cao hơn địa phương khoảng 20,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, dù số cơ sở nhà, đất thuộc diện xử lý ở địa phương lớn gấp hơn 5 lần khối Trung ương, số cơ sở còn tồn đọng tại địa phương cũng chiếm phần lớn tổng số chưa hoàn thành trên cả nước.

9481cde5-2101-4da2-b5a2-85f031ad5634

Khoảng cách này cho thấy tiến độ xử lý nhà, đất công không đồng đều giữa các cấp, ngành và địa phương. Khối Trung ương đã xử lý phần lớn khối lượng công việc, trong khi địa phương vẫn phải giải quyết số lượng lớn cơ sở chưa hoàn thành.

Trong khối bộ, cơ quan Trung ương, Bộ Tài chính có số cơ sở nhà, đất thuộc diện xử lý lớn nhất, với 1.812 cơ sở. Trong số này, 1.698 cơ sở đã hoàn thành xử lý, khai thác, còn 114 cơ sở chưa hoàn thành.

Bộ Công an có 572 cơ sở, đã hoàn thành 426 cơ sở và còn 146 cơ sở chưa xử lý xong. Đây là đơn vị có số cơ sở tồn đọng lớn nhất trong khối Trung ương theo bảng số liệu.

Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có 234 cơ sở, trong đó 95 cơ sở đã hoàn thành và 139 cơ sở còn phải tiếp tục xử lý. Tòa án nhân dân tối cao có 404 cơ sở, đã hoàn thành 270 cơ sở, còn 134 cơ sở chưa hoàn thành.

Một số cơ quan khác cũng còn khối lượng đáng kể cần xử lý, gồm Bộ Nông nghiệp và Môi trường với 122 cơ sở chưa hoàn thành trên tổng số 196 cơ sở; Bộ Tài chính còn 114 cơ sở; Bộ Công an còn 146 cơ sở; Viện Kiểm sát nhân dân tối cao còn 43 cơ sở trên tổng số 422 cơ sở.

Ở chiều ngược lại, nhiều cơ quan đã hoàn thành xử lý toàn bộ số cơ sở thuộc diện rà soát. Theo bảng tổng hợp, Văn phòng Quốc hội, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP.HCM, Đài Truyền hình Việt Nam, Thanh tra Chính phủ, Thông tấn xã Việt Nam, Văn phòng Chính phủ và Văn phòng Chủ tịch nước không còn cơ sở tồn đọng trong danh mục thống kê.

Dù vậy, số liệu cũng cho thấy tiến độ giữa các cơ quan Trung ương vẫn có sự khác biệt. Một số đơn vị có tỷ lệ hoàn thành thấp hơn mặt bằng chung, như Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam hoàn thành 2/10 cơ sở; Kiểm toán nhà nước hoàn thành 2/3 cơ sở; Đài Tiếng nói Việt Nam hoàn thành 0/1 cơ sở. Với những đơn vị có số lượng ít, tỷ lệ phần trăm có thể biến động lớn, nhưng vẫn cần tiếp tục theo dõi để hoàn tất các trường hợp còn lại.

Tuyên Quang, Bắc Ninh dẫn đầu tiến độ xử lý ở địa phương

Ở khối địa phương, kết quả xử lý có sự phân hóa rõ rệt. Tuyên Quang đứng đầu với 1.611 cơ sở thuộc diện xử lý, trong đó 1.581 cơ sở đã hoàn thành, đạt 98,1%, chỉ còn 30 cơ sở tồn đọng.

Bắc Ninh có 1.031 cơ sở, đã hoàn thành 1.001 cơ sở, đạt 97,1%; còn 30 cơ sở chưa hoàn thành. Lạng Sơn có 636 cơ sở, đã xử lý 614 cơ sở, đạt 96,5%, còn 22 cơ sở. Thái Nguyên có 775 cơ sở, hoàn thành 716 cơ sở, đạt 92,4%, còn 59 cơ sở.

Đây là những địa phương có tỷ lệ hoàn thành cao, đều đạt trên 90%. Kết quả cho thấy phần lớn cơ sở nhà, đất thuộc diện rà soát đã được xử lý, khai thác hoặc hoàn tất các thủ tục liên quan theo yêu cầu của chương trình.

Một nhóm địa phương khác cũng đạt tỷ lệ hoàn thành tương đối cao, gồm Hải Phòng đạt 89,1% với 892/1.001 cơ sở; Khánh Hòa đạt 85,7% với 300/350 cơ sở; Lai Châu đạt 85,7% với 300/350 cơ sở; Quảng Ninh đạt 84,9% với 674/794 cơ sở; An Giang đạt 83,3% với 993/1.192 cơ sở và Nghệ An đạt 80% với 589/736 cơ sở.

Tuy nhiên, tỷ lệ hoàn thành cao không đồng nghĩa khối lượng tồn đọng đã nhỏ. Chẳng hạn, An Giang còn 199 cơ sở chưa hoàn thành; Nghệ An còn 147 cơ sở; Quảng Ninh còn 120 cơ sở. Đây vẫn là những khối lượng cần tiếp tục xử lý để tránh kéo dài tình trạng nhà, đất công chưa được khai thác hoặc xử lý dứt điểm.

Trái ngược với nhóm dẫn đầu, một số địa phương có tỷ lệ hoàn thành rất thấp. TP.HCM có 279 cơ sở nhà, đất thuộc diện xử lý nhưng mới hoàn thành 14 cơ sở, đạt 5%; còn 265 cơ sở chưa hoàn thành.

Cà Mau có 390 cơ sở, mới hoàn thành 43 cơ sở, đạt 11%, còn 347 cơ sở. Quảng Trị có 663 cơ sở, đã hoàn thành 77 cơ sở, đạt 11,6%, còn 586 cơ sở chưa hoàn thành.

Đáng chú ý, số cơ sở chưa hoàn thành tại Quảng Trị và Cà Mau lần lượt chiếm phần lớn danh mục phải xử lý của hai địa phương. Tỷ lệ hoàn thành thấp trong khi khối lượng tồn đọng còn lớn đặt ra yêu cầu đẩy nhanh rà soát, xác định rõ tình trạng pháp lý và phương án xử lý đối với từng cơ sở.

Ngoài ba địa phương trên, Đà Nẵng mới hoàn thành 305/1.270 cơ sở, đạt 24%, còn 965 cơ sở. Gia Lai hoàn thành 563/1.534 cơ sở, đạt 36,7%, còn 971 cơ sở; Ninh Bình hoàn thành 327/873 cơ sở, đạt 37,5%, còn 546 cơ sở; Đồng Tháp hoàn thành 142/377 cơ sở, đạt 37,7%, còn 235 cơ sở.

Xét về số lượng tuyệt đối, Gia Lai và Đà Nẵng là hai địa phương có số cơ sở chưa hoàn thành rất lớn, lần lượt là 971 và 965 cơ sở. Đây là những địa bàn cần đặc biệt chú ý khi xây dựng kế hoạch xử lý tiếp theo, bởi khối lượng tồn đọng không chỉ lớn mà tỷ lệ hoàn thành cũng còn thấp.

Bên cạnh đó, một số địa phương có tỷ lệ hoàn thành dưới 50% như Cần Thơ đạt 43,9%, Tây Ninh đạt 43,6%, Ninh Bình đạt 37,5% và Đồng Tháp đạt 37,7%. Với nhóm này, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục hoàn thiện thủ tục mà còn cần phân loại cụ thể các trường hợp vướng mắc để xác định phương án xử lý phù hợp.

Cần tập trung xử lý các trường hợp tồn đọng kéo dài

Tổng thể số liệu cho thấy tiến độ xử lý nhà, đất công đã đạt kết quả nhất định, nhưng vẫn còn khoảng một phần ba số cơ sở thuộc diện rà soát trên cả nước chưa hoàn thành. Phần lớn khối lượng tồn đọng tập trung tại địa phương, với 9.608 cơ sở, so với 795 cơ sở ở khối Trung ương.

Sự chênh lệch giữa các địa phương cũng rất lớn: từ mức hoàn thành trên 98% tại Tuyên Quang xuống chỉ 5% tại TP.HCM. Điều này cho thấy cần đánh giá tiến độ không chỉ theo số lượng cơ sở đã xử lý mà còn theo tỷ lệ hoàn thành, quy mô tồn đọng và tình trạng cụ thể của từng cơ sở.

Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan, địa phương cần tiếp tục rà soát, phân loại rõ các cơ sở nhà, đất chưa hoàn thành; xác định nguyên nhân và trách nhiệm đối với từng trường hợp; đồng thời xây dựng lộ trình xử lý cụ thể. Những địa phương có tỷ lệ hoàn thành thấp nhưng số lượng tồn đọng lớn cần được ưu tiên đôn đốc, kiểm tra tiến độ, nhằm sớm đưa nhà, đất công vào khai thác hiệu quả hoặc hoàn tất phương án xử lý theo quy định.
Xử lý nghiêm việc chây ỳ, đùn đẩy, nhũng nhiễu, trục lợi trong khai thác nhà đất dôi dư
Xử lý nghiêm việc chây ỳ, đùn đẩy, nhũng nhiễu, trục lợi trong khai thác nhà đất dôi dư
Công điện số 68/CĐ-TTg ngày 7/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện xử lý, khai thác nhà, đất dôi dư sau khi...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư