-
Đổi mới mô hình phát triển: Tìm lời giải từ áp lực thực thi -
Đánh giá khả năng giải toả công suất các dự án điện tại Quảng Trị -
Hà Nội phê duyệt Đề án khu đô thị đa mục tiêu -
Đầu tư 868 tỷ đồng xây trạm dừng nghỉ cao tốc quy mô lớn nhất miền Tây -
Lâm Đồng phê duyệt phương án xử lý 10 cơ sở nhà, đất dôi dư
![]() |
| PGS-TS. Huỳnh Quyết Thắng, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng |
Sau khi có Nghị quyết 57-NQ/TW, KHCN được quan tâm đặc biệt với hàng loạt chính sách được ban hành. Ông có thể khái quát các chính sách, định hướng phát triển KHCN gần đây?
Cùng với giáo dục và đào tạo, KHCN luôn được Đảng và Nhà nước coi là quốc sách hàng đầu. Nhưng KHCN được quan tâm đặc biệt kể từ khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đã có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật, chỉ đạo, chỉ thị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành được ban hành.
Trong đó, các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản điều hành gần đây tập trung vào việc xác định phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chủ yếu để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới quản trị quốc gia, nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Các định hướng mới nhấn mạnh yêu cầu tập trung vào những trụ cột cốt lõi như thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược, trong đó thể chế phải đi trước một bước. Tư duy quản lý cũng chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển; từ hỗ trợ dàn trải sang ưu tiên có trọng tâm, trọng điểm đối với công nghệ chiến lược và công nghệ lõi; từ xem chuyển đổi số là công cụ kỹ thuật sang coi đây là phương thức phát triển và quản trị quốc gia mới. Đây được xem là dấu mốc mở ra một hệ sinh thái chính sách mới, khi KHCN không còn chỉ đóng vai trò hỗ trợ, mà đã trở thành một trục phát triển quốc gia.
![]() |
| Để tăng trưởng 2 con số, cần phải dựa vào 4 trụ cột là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và chuyển đổi số. Ảnh: Đức Thanh |
Phát biểu tại Hội nghị Triển khai công nghệ chiến lược mới đây, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh, KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là chìa khóa vàng, là yếu tố sống còn để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước. Theo ông, cần phải làm gì để KHCN thực sự là “chìa khóa vàng”?
Trước hết, lấy hoàn thiện thể chế làm khâu đột phá đầu tiên, với tinh thần xuyên suốt là tháo gỡ rào cản pháp lý, đổi mới tư duy xây dựng pháp luật và giảm cách tiếp cận nặng về tiền kiểm hoặc quản lý cứng nhắc. Việc sửa đổi, bổ sung các chương trình hành động trong năm 2025 và đầu năm 2026 cho thấy, KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang được ưu tiên chiến lược, cần phản ứng chính sách nhanh và thường xuyên.
Cùng với đó, chuyển mạnh sang cơ chế đặc thù, thí điểm và có kiểm soát rủi ro. Đây là dấu hiệu cho thấy, chính sách đang mở rộng dư địa cho thử nghiệm, sandbox và các mô hình thể chế mới để tạo đột phá.
Đẩy nhanh phát triển hạ tầng số, dữ liệu và nền tảng quản trị số. Dữ liệu ngày càng được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển mới, có vai trò nền tảng đối với cả quản trị công, hoạt động doanh nghiệp và cung cấp dịch vụ. Chuyển từ ứng dụng công nghệ sang làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ lõi. Đây là chuyển dịch rất quan trọng, phản ánh mục tiêu nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.
Và cuối cùng là ưu tiên phát triển nhân lực chất lượng cao, chuyên gia và nhân tài công nghệ. Nhân lực là điều kiện tiên quyết để tạo ra năng lực KHCN và đổi mới sáng tạo thực chất. So với trước đây, sự đãi ngộ cho các nhà khoa học tốt hơn rất nhiều, nhưng chưa đủ hấp dẫn để thu hút nhiều nhà khoa học Việt kiều trên thế giới về nước làm việc, cống hiến.
Các chuyên gia kinh tế đều cho rằng, trong kỷ nguyên 4.0, phát triển kinh tế không thể dựa vào động lực truyền thống là vốn, gia công, xuất khẩu, mà phải dựa vào KHCN. Thưa ông, định lượng thế nào về sự đóng góp của KHCN vào GDP?
Chỉ số GERD/GDP (đầu tư cho KHCN/quy mô nền kinh tế) của nước ta mới đạt 0,5-0,6% GDP, nhưng năm 2025 đã đóng góp vào tăng trưởng GDP khoảng 12-15%. Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ yêu cầu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho phát triển KHCN và đổi mới sáng tạo và sẽ tăng dần theo yêu cầu phát triển. Cùng với vốn nhà nước từ ngân sách, cần huy động các nguồn vốn từ doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, vốn tài trợ, viện trợ của tổ chức, cá nhân nước ngoài và nguồn vốn xã hội hóa cho phát triển KHCN. Nếu tỷ lệ đầu tư cho KHCN tăng lên 1-1,2% GDP vào năm 2035, thì KHCN đóng góp vào tăng trưởng GDP 20-25%.
Đổi mới sáng tạo chuyển tri thức thành giá trị: sản phẩm, quy trình, mô hình kinh doanh mới và thúc đẩy tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng giá trị gia tăng cao. Hiện chỉ có khoảng 21% doanh nghiệp có đổi mới sáng tạo đã đóng góp vào GDP 5-7% giá trị. Mục tiêu đặt ra vào năm 2035 số doanh nghiệp có đổi mới sáng tạo chiếm 40% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, sẽ đóng góp vào GDP khoảng 15-18%, tương đương Trung Quốc hiện nay.
Khởi nghiệp gần đây được xem như một trong những động lực mới để tăng trưởng kinh tế 2 con số. Hiện khởi nghiệp đóng góp thế nào trong GDP?
Khởi nghiệp ở đây thường đồng nghĩa với đổi mới sáng tạo. Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tạo ngành nghề mới, thúc đẩy thương mại hóa công nghệ nhanh, hình thành lực lượng doanh nhân công nghệ và việc làm chất lượng cao.
Hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam hiện nay trị giá khoảng 5 tỷ USD, tương đương 1% GDP năm 2025. Cần có chính sách khuyến khích, hỗ trợ, động viên hoạt động khởi nghiệp, nhất là khởi nghiệp đổi mới sáng tạo để hoạt động này có giá trị 3-4% GDP, tương đương Singapore hiện nay, thì quy mô của hoạt động khởi nghiệp sẽ đạt 30-40 tỷ USD khi quy mô nền kinh tế cán mức 1.000 tỷ USD.
Cùng với khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số cũng được xem là động lực quan trọng để tăng trưởng 2 con số. Chuyển đổi số tạo năng suất mới dựa trên dữ liệu, tự động hóa và nền tảng số; mở rộng quy mô thị trường theo cấp số nhân, giảm chi phí giao dịch.
Trị giá kinh tế số của Việt Nam năm 2025, theo tính toán của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), chiếm trên 14% GDP, đóng góp vào tăng trưởng GDP 6-7%. Nếu năm 2030, quy mô kinh tế số đạt 30% GDP như yêu cầu đặt ra tại Nghị quyết 57-NQ/TW, kinh tế số sẽ đóng góp vào tăng trưởng GDP 12-15%, tức là tương đương mức hiện nay của Singapore và Hàn Quốc.
Những số liệu tính toán nêu trên minh chứng rằng, để tăng trưởng 2 con số, cần phải dựa vào 4 trụ cột là KHCN, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và chuyển đổi số. Nền kinh tế phải chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức - công nghệ - đổi mới - khởi nghiệp sáng tạo - số hóa. Đây là nền tảng tạo ra tăng trưởng chất lượng cao, nâng cao Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) và hình thành ngành kinh tế mới, là động lực trung tâm cho tăng trưởng chất lượng cao, nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Doanh nghiệp tư nhân được xác định là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Vậy cần làm gì để khu vực này tận dụng hơn nữa sự phát triển của KHCN?
Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân không chỉ đặt doanh nghiệp tư nhân vào vai trò động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, mà còn là lực lượng tiên phong trong phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Doanh nghiệp tư nhân đã được đặt vào vị trí trung tâm của đổi mới sáng tạo, hấp thụ công nghệ, thương mại hóa tri thức và tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
Để hoàn thành được vai trò, sứ mệnh của mình, doanh nghiệp tư nhân phải xác lập công nghệ và đổi mới sáng tạo là trụ cột chiến lược, thay vì coi đó là hoạt động hỗ trợ hoặc chi phí bổ sung.
Tôi cho rằng, từng doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và lớn phải rà soát lại chiến lược phát triển, chiến lược đầu tư, chiến lược nhân sự và chiến lược thị trường theo hướng tích hợp mục tiêu công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo vào lõi hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp chuyển đổi mô hình quản trị theo hướng dữ liệu, số hóa và thông minh hơn; ứng dụng công nghệ để tích hợp dữ liệu vận hành, tài chính, nhân sự, chuỗi cung ứng, sản phẩm, thị trường và khách hàng, từ đó nâng cao năng lực ra quyết định, dự báo, kiểm soát rủi ro và tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh.
Năng lực cạnh tranh bền vững ngày càng phụ thuộc vào khả năng tạo ra tri thức mới, sản phẩm mới, quy trình mới và mô hình kinh doanh mới. Không còn cách nào khác, doanh nghiệp phải đầu tư thực chất hơn cho nghiên cứu và phát triển (R&D), cho năng lực công nghệ nội sinh và cho đội ngũ nhân lực chất lượng cao. Và cần phải hiểu rằng, doanh nghiệp lớn chưa chắc đã mạnh nếu không kiểm soát được dữ liệu, không sở hữu năng lực công nghệ lõi, không có đội ngũ sản phẩm mạnh và không tạo được hệ sinh thái đổi mới sáng tạo riêng.
-
Khoa học công nghệ là ‘chìa khóa vàng’ để tăng trưởng 2 con số -
Lâm Đồng phê duyệt phương án xử lý 10 cơ sở nhà, đất dôi dư -
Trạm dừng nghỉ cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận sẽ đi vào hoạt động vào quý IV/2027 -
TP.HCM giảm 30% dự án đầu tư công giai đoạn 2026-2030 để dồn vốn cho dự án trọng điểm -
Kiên quyết xử lý các dự án năng lượng trọng điểm không đảm bảo tiến độ -
Nhà đầu tư Thái Lan hiện diện ngày càng sâu rộng tại Việt Nam -
Diễn biến mới tại tuyến cao tốc do Sun Group đề xuất đầu tư theo phương thức PPP
-
Công bố Top 50 Doanh nghiệp Đổi mới sáng tạo và Kinh doanh hiệu quả 2026 -
Xổ số kiến thiết Cần Thơ được giao chỉ tiêu lợi nhuận 756,8 tỷ đồng trong năm 2026 -
Cập nhật giá đơn vị Quỹ liên kết đơn vị của AIA Việt Nam ngày 27/5/2026 -
SeABank tăng lớp bảo vệ tiền gửi online trước lừa đảo công nghệ cao -
Gemadept tiên phong kiến tạo hệ sinh thái trung tâm tài chính hàng hải quốc tế -
Top 10 Doanh nghiệp Đổi mới sáng tạo và Kinh doanh hiệu quả 2026 ngành Xây dựng


