Thứ Ba, Ngày 07 tháng 07 năm 2026,
Luật Đô thị đặc biệt: Thiết kế thể chế cho siêu đô thị TP.HCM - Bài 2: Chuyển từ tư duy quản lý địa giới sang tư duy quản trị hệ thống
Bích Ngọc - 07/07/2026 08:15
 
Không gian của TP.HCM đã thay đổi sau sáp nhập, nhưng yêu cầu thay đổi tư duy quản trị đang được đặt ra. “Cần chuyển từ tư duy quản lý địa giới sang tư duy quản trị hệ thống và quản trị các dòng chảy để phát huy hiệu quả các lợi thế mới”, ông Nguyễn Đỗ Dũng, chuyên gia quốc tế về quy hoạch và thiết kế đô thị, đồng sáng lập kiêm Tổng giám đốc enCity đặt vấn đề.
at10.jpg
Ông Nguyễn Đỗ Dũng, chuyên gia quốc tế về quy hoạch và thiết kế đô thị, đồng sáng lập kiêm Tổng giám đốc enCity

QUẢN TRỊ CÁC "DÒNG CHẢY"

Phát triển một siêu đô thị đòi hỏi cách tiếp cận quản trị hoàn toàn khác so với một đô thị truyền thống, thưa ông?

Một siêu đô thị không vận hành theo địa giới mà theo dòng người, dòng hàng hóa, dòng vốn, năng lượng, dữ liệu và tri thức. Nếu các sở, ngành chỉ tối ưu phần việc của mình, thì Thành phố dù lớn, nguy cơ phân mảnh trong vận hành vẫn có. Ví dụ, một khu đất có thể mang lại lợi ích ngắn hạn nếu phát triển công nghiệp hoặc bất động sản, nhưng ở cấp độ đô thị vùng, nó có thể phù hợp hơn cho hành lang thoát lũ, TOD, nhà ở xã hội hay hạ tầng công cộng.

Sau sáp nhập, TP.HCM đang hình thành các vùng chức năng quy mô lớn: vùng công nghiệp - công nghệ phía Bắc; vùng kinh tế biển Cần Giờ - Gành Rái; và vùng lõi trong Vành đai 3 với định hướng tài chính, dịch vụ và đổi mới sáng tạo. Mỗi vùng cần chiến lược và cơ chế điều phối riêng, nên có một Phó Chủ tịch UBND Thành phố phụ trách để bảo đảm sự liên thông, tránh tình trạng các dự án lớn bị chia nhỏ và thiếu kết nối.

Bên cạnh đó, chuyển đổi số phải trở thành nền tảng quản trị. TP.HCM cần một trung tâm điều hành toàn đô thị có khả năng theo dõi và điều phối theo thời gian thực các lĩnh vực, như giao thông, môi trường, logistics, đầu tư công hay cấp phép xây dựng, qua đó hỗ trợ việc ra quyết định và tháo gỡ các điểm nghẽn tăng trưởng.

Bộ máy chính quyền cũng cần được tổ chức theo mục tiêu phát triển thay vì chỉ theo chức năng hành chính truyền thống.

Nói ngắn gọn, quản trị siêu đô thị phải chuyển từ "quản lý từng địa phương, từng dự án" sang "điều phối một hệ thống tăng trưởng".

Theo ông, đâu là những thay đổi đáng chú ý nhất trong cấu trúc kinh tế, năng lực cạnh tranh và vai trò vùng của siêu đô thị TP.HCM?

Thay đổi lớn nhất của TP.HCM sau sáp nhập là ở cơ hội xóa bỏ những ranh giới hành chính vốn chia cắt không gian kinh tế nhiều năm qua.

Trước đây, công nghiệp phát triển mạnh ở Bình Dương và Đồng Nai; hệ thống cảng biển, logistics tập trung tại Bà Rịa - Vũng Tàu; còn TP.HCM chủ yếu đảm nhận vai trò trung tâm tài chính, dịch vụ và chịu áp lực lớn về dân số cũng như hạ tầng. Sau khi mở rộng không gian phát triển, các lợi thế này có điều kiện được tổ chức lại trong một chiến lược thống nhất, thay vì phát triển rời rạc.

Theo đó, TP.HCM có thể hình thành ba vùng chức năng chiến lược.

Luật Đô thị đặc biệt không chỉ trao thêm quyền chung chung, mà cần cho phép TP.HCM thử nghiệm các mô hình quản trị, công cụ đất đai và tài chính mới để giải quyết hiệu quả những bài toán đô thị truyền thống.

Thứ nhất là vùng lõi trong Vành đai 3, tập trung các chức năng tài chính, dịch vụ, đổi mới sáng tạo và điều phối toàn đô thị.

Thứ hai là vùng công nghiệp - công nghệ phía Bắc, trải dài từ Thủ Dầu Một, Thành phố mới Bình Dương đến Bàu Bàng, phát triển theo mô hình sản xuất công nghệ cao, nghiên cứu - phát triển (R&D) và logistics công nghiệp.

Thứ ba là vùng kinh tế biển Cần Giờ - Gành Rái - Cái Mép - Phú Mỹ - Long Sơn, với tiềm năng trở thành trung tâm cảng biển, logistics, năng lượng và công nghiệp biển quy mô lớn của cả nước.

Tuy nhiên, tiềm năng này không tự động chuyển hóa thành tăng trưởng. TP.HCM vẫn phải giải quyết hai điểm nghẽn lớn là chi phí nhà ở và chi phí logistics. Lợi thế tích tụ đô thị chỉ được phát huy khi người lao động có thể sống gần nơi làm việc với chi phí hợp lý và hàng hóa được lưu thông thuận lợi đến các cảng biển, trung tâm logistics.

at10-to.jpg
TP.HCM có thể trở thành một siêu đô thị hợp lưu của Đông Nam Á lục địa. Ảnh: Lê Toàn 

CƠ HỘI ĐẦU TƯ TRONG KHÔNG GIAN MỚI

Với việc kết nối các trung tâm công nghiệp, logistics, đổi mới sáng tạo, dịch vụ tài chính và các đô thị vệ tinh trong một không gian phát triển rộng lớn hơn sẽ tạo ra những cơ hội đầu tư hấp dẫn. Đâu là những ngành sẽ có lợi thế, theo ông?

Điều quan trọng nhất mà mô hình siêu đô thị mang lại không phải là mở thêm quỹ đất, mà là giảm chi phí vận hành của toàn bộ nền kinh tế. Khi chi phí logistics, chi phí nhà ở và thời gian di chuyển được kéo xuống, nhiều ngành kinh tế sẽ có thêm dư địa để nâng cao năng lực cạnh tranh. Theo tôi có 6 nhóm ngành được hưởng lợi rõ nhất.

Đầu tiên là lĩnh vực logistics, cảng biển và chuỗi cung ứng. Khi dòng hàng hóa được tổ chức lại trên quy mô vùng, chi phí và thời gian vận tải sẽ giảm đáng kể, logistics không chỉ là dịch vụ hỗ trợ mà trở thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi.

Thứ hai là công nghiệp công nghệ cao, nghiên cứu - phát triển (R&D) và tự động hóa. Không gian phía Bắc với lợi thế về quỹ đất và hạ tầng công nghiệp có điều kiện phát triển thành trung tâm sản xuất thế hệ mới, kết hợp giữa sản xuất, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và không gian sống chất lượng.

Thứ ba là công nghiệp và dịch vụ gắn với cảng biển. Việc phát triển quỹ đất công nghiệp gần Cái Mép - Thị Vải để tối ưu chi phí vận chuyển và giảm tải cho trung tâm.

Thứ tư là dịch vụ tài chính, pháp lý và thương mại quốc tế. Khi kinh tế biển và logistics phát triển, nhu cầu về tài chính thương mại, bảo hiểm hàng hải, dịch vụ pháp lý và quản trị chuỗi cung ứng sẽ gia tăng, tạo cơ hội để vùng lõi TP.HCM trở thành trung tâm điều phối dòng vốn và dịch vụ doanh nghiệp.

Thứ năm là nhà ở vừa túi tiền, nhà ở cho thuê và phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD).

Cuối cùng là hạ tầng xanh, đô thị thích ứng khí hậu và kinh tế sinh thái. Với lợi thế về sông ngòi, rừng ngập mặn và vùng vịnh, TP.HCM có cơ hội phát triển các mô hình đô thị xanh, nâng cao chất lượng sống và tăng sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư cũng như nguồn nhân lực chất lượng cao.

Luật Đô thị đặc biệt sẽ mở ra khung khổ thể chế linh hoạt hơn cho các đô thị đầu tàu. Theo ông, TP.HCM cần cơ chế nào để tận dụng tối đa cơ hội, phát huy vai trò là trung tâm tăng trưởng của cả nước?

TP.HCM cần ba nhóm cơ chế đột phá.

Quan trọng nhất là sắp xếp lại đất đai theo lợi thế vùng. Từng bước chuyển đổi các khu công nghiệp lỗi thời ở vùng lõi sang đô thị/dịch vụ; đồng thời dịch chuyển công nghiệp mới về các khu vực có quỹ đất rộng, gần cảng biển, sân bay và logistics để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng đất.

Hai là phát triển đô thị TOD và huy động nguồn lực từ đất.

Ba là quản trị tích hợp không gian chiến lược. Thiết lập cơ chế điều phối thống nhất cho các khu vực liên kết đa ngành như: hệ thống Metro gắn với nhà ở; vùng vịnh Gành Rái (tích hợp cảng biển - du lịch - môi trường); sông Sài Gòn và vùng công nghiệp phía Bắc.

XÂY DỰNG HỆ SINH THÁI KINH TẾ CẠNH TRANH

Nếu nhìn tới giai đoạn 2045 - 2050, TP.HCM cần hành động gì ngay từ hôm nay để xây dựng một hệ sinh thái kinh tế có sức cạnh tranh toàn cầu, đồng thời bảo đảm phát triển bền vững và chất lượng sống cho người dân?

Đến giai đoạn đó, TP.HCM có thể trở thành một siêu đô thị hợp lưu của Đông Nam Á lục địa.

“Hợp lưu” không chỉ là sự giao thoa của sông Sài Gòn, Đồng Nai, Thị Vải hay hệ thống kênh rạch, mà còn là nơi hội tụ của dòng người, dòng hàng hóa, dòng vốn, tri thức và năng lượng. TP.HCM kết nối Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Campuchia và hành lang xuyên Á với mạng hàng hải quốc tế qua Cần Giờ - Gành Rái - Cái Mép - Thị Vải. Đây là lợi thế địa kinh tế rất đặc biệt.

Tất nhiên, để hiện thực hóa vai trò đó, Thành phố phải hành động từ hôm nay.

Trước hết, cần tổ chức lại đất đai để khai thác tối đa lợi thế của từng vùng. Vùng lõi trong Vành đai 3 phải tập trung vào tài chính, dịch vụ và đổi mới sáng tạo; vùng phía Bắc trở thành trung tâm công nghiệp - công nghệ; còn vùng Gành Rái phải phát triển thành cửa ngõ kinh tế biển của cả nước.

Thứ hai, phải giảm chi phí logistics bằng cách tổ chức lại dòng hàng hóa theo các hành lang chuyên dụng, kết nối trực tiếp hơn giữa khu công nghiệp, cảng biển, sân bay và các trung tâm logistics, thay vì để hàng hóa đi xuyên qua lõi đô thị.

Thứ ba, giảm chi phí nhà ở và chi phí tiếp cận việc làm. TOD, nhà ở vừa túi tiền, nhà ở cho thuê và các đô thị vệ tinh tự chủ cần được xem là hạ tầng kinh tế quan trọng để nâng cao năng suất đô thị.

Thứ tư, bảo vệ nền tảng sinh thái. Sông, rạch, vùng trữ nước, rừng ngập mặn và vịnh biển không phải là trở ngại phát triển, mà là hạ tầng tự nhiên giúp Thành phố thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao chất lượng sống và thu hút nhân tài.

Cuối cùng, Thành phố cần hiện đại hóa quản trị đô thị với dữ liệu thời gian thực, trung tâm điều hành toàn đô thị, năng lực phân tích dự báo và cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả.

Nếu làm được những điều này, TP.HCM sẽ không cạnh tranh bằng quy mô dân số đơn thuần, mà bằng năng suất đô thị, chất lượng thể chế và khả năng kết nối toàn cầu.

Vạch tầm nhìn 100 năm cho siêu đô thị TP.HCM
Đề cương Quy hoạch tổng thể TP.HCM thời kỳ 2025 - 2050, tầm nhìn 100 năm với mục tiêu trở thành siêu đô thị bền vững, sáng tạo và đáng sống...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư