Thứ Bảy, Ngày 22 tháng 08 năm 2026,
Nhận diện mắt xích yếu tiến độ tại Dự án cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột
Anh Minh - 22/08/2026 15:26
 
Trong khi Dự án thành phần 1, 3 cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột đang bám sát kế hoạch, Dự án thành phần 2 mới đạt 72,23% giá trị hợp đồng, trở thành mắt xích quyết định khả năng hoàn thành toàn tuyến trong năm 2026.
Toàn cảnh hầm Phượng Hoàng tại tư Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột giai đoạn 1
Toàn cảnh hầm Phượng Hoàng tại Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột giai đoạn 1.

Đây là một trong những thông tin đáng chú ý tại Báo cáo số 924/BC-UBKTTC16 vừa được Thường trực Ủy ban Kinh tếTài chính báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thực hiện Nghị quyết số 58/2022/QH15 ngày 16/6/2022 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột giai đoạn 1.

Chỉ mặt mắt xích yếu

Theo Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính, đến nay, toàn bộ 3 Dự án thành phần đã được phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi; 9/9 gói thầu đã hoàn thành lựa chọn nhà thầu và triển khai thi công; tổng mức đầu tư sau phê duyệt là 21.935 tỷ đồng, không vượt sơ bộ tổng mức đầu tư được Quốc hội quyết định.

Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chuyển mục đích sử dụng rừng và di dời hạ tầng kỹ thuật cơ bản hoàn thành. Trong đó, 20 km đầu tuyến thuộc Dự án thành phần 1 đã được đưa vào khai thác; Dự án thành phần 3 đã thông xe kỹ thuật ngày 19/12/2025.

Kết quả thi công toàn Dự án cũng có chuyển biến tích cực, với sản lượng đạt 13.474,19/16.376,68 tỷ đồng, tương ứng 82,28% giá trị hợp đồng; tăng 4.806,35 tỷ đồng, tương ứng 29,34% giá trị hợp đồng giữa hai kỳ báo cáo. Đây là cơ sở để phấn đấu cơ bản hoàn thành toàn tuyến trong năm 2026 theo Nghị quyết của Quốc hội.

Tuy nhiên, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính lưu ý tiến độ giữa các Dự án thành phần không đồng đều. Trong đó, Dự án thành phần 2 mới đạt 72,23% giá trị hợp đồng, thấp hơn Dự án thành phần 1 và Dự án thành phần 3.

Tiến độ giải ngân cũng còn chậm. Lũy kế giải ngân toàn Dự án mới đạt 72,08% vốn đã bố trí; riêng kế hoạch vốn năm 2026, đến ngày 30/6/2026 mới giải ngân 854,573/6.471,2 tỷ đồng, tương đương khoảng 13,2%.

Bên cạnh đó, hệ thống giám sát, điều hành giao thông và trạm dừng nghỉ chưa hoàn thành thủ tục đầu tư; nguồn đá phục vụ bê tông nhựa của Dự án thành phần 2 còn khó khăn.

Với thực tế này, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính cho rằng, mục tiêu thông xe kỹ thuật phần còn lại trước ngày 2/9/2026, cơ bản hoàn thành toàn tuyến trong năm 2026 và đưa Dự án vào khai thác đồng bộ tiềm ẩn nguy cơ không bảo đảm tiến độ nếu không có giải pháp quyết liệt, cụ thể hơn đối với Dự án thành phần 2.

Cơ quan thẩm tra đề nghị Chính phủ bổ sung kế hoạch kiểm soát tiến độ theo tuần, xác định rõ đường găng và phương án xử lý đối với từng tình huống phát sinh.

Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính cũng nhận thấy một số đánh giá tại báo cáo của Chính phủ còn thiên về mô tả kết quả, chưa lượng hóa đầy đủ phần việc còn lại, chưa phân tích thấu đáo nguyên nhân, trách nhiệm và chưa xây dựng kịch bản bất lợi.

Do đó, cơ quan thẩm tra đề nghị Chính phủ bổ sung bảng so sánh mục tiêu theo Nghị quyết số 58/2022/QH15 ngày 16/6/2022 của Quốc hội với kết quả thực hiện; tiến độ từng gói thầu; tình hình bố trí vốn, giải ngân và khối lượng thi công; đồng thời làm rõ từng khó khăn, cơ quan chịu trách nhiệm xử lý, thời hạn và trạng thái hoàn thành.

Làm rõ nội hàm: Thông xe kỹ thuật, cơ bản hoàn thành

Về tiến độ thi công và khả năng hoàn thành, theo báo cáo của Chính phủ, tính đến ngày 1/7/2026, khoảng 9,5 km còn lại thuộc Dự án thành phần 1 và Dự án thành phần 2 đang được đẩy nhanh thi công để thông xe kỹ thuật trước ngày 2/9/2026; phấn đấu cơ bản hoàn thành toàn tuyến trong năm 2026 và đưa vào khai thác đồng bộ trong năm 2027.

Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đánh giá, tiến độ này phù hợp với mốc đưa Dự án vào khai thác đồng bộ trong năm 2027 theo Nghị quyết số 58/2022/QH15 ngày 16/6/2022 của Quốc hội. Tuy nhiên, quá trình triển khai phải bảo đảm chất lượng, an toàn và tuân thủ đầy đủ trình tự nghiệm thu.

Có ý kiến đề nghị Chính phủ không đánh giá chung tiến độ “cơ bản đáp ứng” khi chưa có tiến độ chi tiết của từng gói thầu và xác định rõ đường găng. Riêng Dự án thành phần 2 còn khoảng 27,77% giá trị hợp đồng chưa thực hiện, trong khi nguồn đá phục vụ bê tông nhựa còn hạn chế và thời gian đến mốc thông xe kỹ thuật trước ngày 2/9/2026 không còn nhiều.

Cơ quan thẩm tra đề nghị Chính phủ bổ sung khối lượng còn lại theo từng hạng mục, năng lực thiết bị và nhân lực, sản lượng tối thiểu theo ngày; xác định cụ thể mốc hoàn thành nền, mặt đường, cầu, an toàn giao thông, nghiệm thu và trách nhiệm nếu không đạt các mốc tiến độ.

Đáng lưu ý, trong khoảng 2.902,49 tỷ đồng giá trị hợp đồng còn lại của toàn Dự án, riêng Dự án thành phần 2 còn khoảng 2.355,29 tỷ đồng, chiếm hơn 4/5. Vì vậy, khả năng hoàn thành toàn tuyến trong năm 2026 phụ thuộc chủ yếu vào kết quả thi công của Dự án thành phần này.

Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính cũng đề nghị Chính phủ nghiên cứu bổ sung các giải pháp tháo gỡ khó khăn, bảo đảm nguồn vật liệu phục vụ thi công, ngoài việc chỉ đạo chủ đầu tư, nhà thầu chủ động tìm kiếm nguồn vật liệu.

Có ý kiến đề nghị Chính phủ phân định rõ nội hàm các khái niệm “thông xe kỹ thuật”, “cơ bản hoàn thành” và “đưa vào khai thác”, gắn với tiêu chí, hồ sơ nghiệm thu và điều kiện an toàn cụ thể đối với từng đoạn tuyến; không sử dụng các khái niệm này thay thế lẫn nhau khi đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu tại Nghị quyết số 58/2022/QH15 ngày 16/6/2022 của Quốc hội.

“Việc rút ngắn tiến độ chỉ có ý nghĩa khi chất lượng được kiểm soát”, cơ quan thẩm tra nhấn mạnh và đề nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương liên quan phân định rõ trách nhiệm của chủ đầu tư, ban quản lý dự án, đơn vị tư vấn khảo sát, thiết kế, lập dự án và cơ quan thẩm định, quyết định đầu tư theo từng khâu, từng nội dung nếu để xảy ra sai sót.

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Chưa vượt đường bao vốn

Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đánh giá, tổng mức đầu tư của 3 Dự án thành phần sau phê duyệt là 21.935 tỷ đồng, không vượt sơ bộ tổng mức đầu tư được Quốc hội quyết định.

Trong quá trình triển khai, sơ bộ tổng mức đầu tư giữa các Dự án thành phần có sự điều chỉnh. Cụ thể, Dự án thành phần 2 tăng khoảng 619 tỷ đồng, trong khi Dự án thành phần 1 giảm khoảng 299 tỷ đồng và Dự án thành phần 3 giảm khoảng 320 tỷ đồng. Việc điều chỉnh này không làm thay đổi tổng mức đầu tư toàn Dự án.

Theo đó, tổng mức đầu tư sau điều chỉnh của Dự án thành phần 1 là 5.333 tỷ đồng, Dự án thành phần 2 là 10.437 tỷ đồng và Dự án thành phần 3 là 6.165 tỷ đồng.

Tuy nhiên, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính cho rằng, báo cáo của Chính phủ chưa thể hiện đầy đủ căn cứ, khối lượng, đơn giá và cơ cấu chi phí dẫn đến việc tăng, giảm của từng Dự án thành phần; chưa đánh giá tác động của biến động giá nhiên liệu, vật liệu, khối lượng phát sinh, chi phí hệ thống giám sát, điều hành giao thông và trạm dừng nghỉ đến khả năng cân đối trong tổng mức đầu tư Dự án.

Cơ quan thẩm tra đề nghị Chính phủ chỉ đạo rà soát dự toán hoàn thành, dự phòng còn lại, nghĩa vụ thanh toán và khả năng phát sinh; bảo đảm không để phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản, không điều chỉnh tổng mức đầu tư hoặc phạm vi Dự án trái thẩm quyền.

Một vấn đề khác được đặt ra trong quá trình thẩm tra là chênh lệch số liệu về chiều dài Dự án. Có ý kiến đề nghị Chính phủ làm rõ việc tổng chiều dài của 3 Dự án thành phần theo Báo cáo số 490/BC-CP ngày 4/8/2026 của Chính phủ là khoảng 116,6 km, thấp hơn khoảng 0,9 km so với chiều dài 117,5 km tại Phụ lục danh mục các Dự án thành phần ban hành kèm theo Nghị quyết số 58/2022/QH15 ngày 16/6/2022 của Quốc hội.

Cơ quan thẩm tra đề nghị Chính phủ làm rõ nguyên nhân, cơ sở của sự chênh lệch này, bảo đảm phạm vi, quy mô, tiêu chuẩn kỹ thuật và tính kết nối toàn tuyến đúng với chủ trương đầu tư đã được Quốc hội quyết định.

Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột giai đoạn 1 được Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 58/2022/QH15 ngày 16/6/2022, với tổng chiều dài 117,5 km, sơ bộ tổng mức đầu tư 21.935 tỷ đồng. Trong đó, đoạn Km0+000 - Km7+700 được đầu tư 4 làn xe hoàn chỉnh, chiều rộng nền đường 24,75 m; đoạn Km7+700 - Km117+500 đầu tư 4 làn xe phân kỳ, chiều rộng nền đường 17 m.

Tiến độ chuẩn bị đầu tư, thực hiện Dự án từ năm 2022, cơ bản hoàn thành một số đoạn tuyến có lưu lượng giao thông lớn năm 2025, cơ bản hoàn thành toàn tuyến năm 2026 và hoàn thành đưa vào khai thác đồng bộ toàn Dự án năm 2027.

Dự án được chia thành 3 Dự án thành phần và giao UBND các tỉnh Khánh Hòa, Đắk Lắk và Bộ Giao thông vận tải (nay là Bộ Xây dựng) làm cơ quan chủ quản, triển khai theo hình thức đầu tư công.

Trong đó, Dự án thành phần 1 do UBND tỉnh Khánh Hòa làm cơ quan chủ quản, chiều dài khoảng 31,5 km, sơ bộ tổng mức đầu tư khoảng 5.632 tỷ đồng; Dự án thành phần 2 do Bộ Giao thông vận tải (nay là Bộ Xây dựng) làm cơ quan chủ quản, chiều dài khoảng 37 km, sơ bộ tổng mức đầu tư khoảng 9.818 tỷ đồng; Dự án thành phần 3 do UBND tỉnh Đắk Lắk làm cơ quan chủ quản, chiều dài khoảng 48,1 km, sơ bộ tổng mức đầu tư 6.485 tỷ đồng.

Tại Báo cáo số 490/BC-CP ngày 4/8/2026, Chính phủ cho biết, trong năm 2025, thời tiết khu vực Nam Trung Bộ, trong đó có Khánh Hòa, Đắk Lắk diễn biến phức tạp, mưa lũ kéo dài. Trong những tháng đầu năm 2026, ảnh hưởng của xung đột quốc tế khiến giá nhiên liệu tăng cao, tác động trực tiếp đến tiến độ thi công Dự án.

Trong điều kiện nhiều khó khăn, bất lợi, Bộ Xây dựng, tỉnh Khánh Hòa, tỉnh Đắk Lắk cùng các chủ đầu tư và nhà thầu đã nỗ lực khắc phục khó khăn, triển khai Dự án theo tiến độ tại Nghị quyết của Quốc hội. Đến thời điểm báo cáo, 20 km đầu tuyến thuộc Dự án thành phần 1 qua tỉnh Khánh Hòa đã hoàn thành, đưa vào khai thác; Dự án thành phần 3 qua tỉnh Đắk Lắk đã thông xe kỹ thuật ngày 19/12/2025.

Khoảng 9,5 km còn lại thuộc Dự án thành phần 1 và Dự án thành phần 2 đang được tập trung thi công, đẩy nhanh tiến độ để bảo đảm thông xe kỹ thuật trước ngày 2/9/2026.

Đáng chú ý, Chính phủ đặt mục tiêu phấn đấu hoàn thành, đưa toàn bộ Dự án vào khai thác trong năm 2026, sớm hơn mốc đưa Dự án vào khai thác đồng bộ trong năm 2027 theo Nghị quyết số 58/2022/QH15 ngày 16/6/2022 của Quốc hội, nhằm sớm phát huy hiệu quả đầu tư và khai thác đồng bộ.

Bộ Xây dựng ra công điện hỏa tốc thúc tiến độ cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột
Mặc dù liên tục được Bộ Xây dựng đôn đốc, tiến độ Dự án thành phần 2 cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột vẫn chưa có nhiều chuyển biến,...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư