Thứ Năm, Ngày 06 tháng 08 năm 2026,
Tháo điểm nghẽn thể chế cho công nghiệp văn hóa
Nhật Hạ - 06/08/2026 16:05
 
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng tạo đột phá thể chế, khơi thông nguồn lực và giải phóng sức sáng tạo để đưa văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.

Kiến tạo hệ sinh thái để công nghiệp văn hóa bứt phá

Sau hơn một thập kỷ kể từ khi khái niệm phát triển công nghiệp văn hóa lần đầu được đặt ra trong Nghị quyết số 33-NQ/TW năm 2014, Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt quan trọng khi lần đầu tiên xây dựng một đạo luật chuyên biệt điều chỉnh toàn diện lĩnh vực này.

Nếu được Quốc hội thông qua, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa sẽ trở thành nền tảng pháp lý thống nhất, kết nối toàn bộ chuỗi giá trị từ sáng tạo, bảo hộ tài sản trí tuệ, huy động nguồn lực, sản xuất, phân phối, thương mại hóa đến tái đầu tư, thay vì cách tiếp cận rời rạc theo từng lĩnh vực như hiện nay.

Các chương trình biểu diễn quy mô lớn đang góp phần gia tăng giá trị kinh tế, quảng bá hình ảnh điểm đến và thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa.

Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, sau 12 năm triển khai các chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa, tỷ trọng đóng góp của lĩnh vực này trong GDP giai đoạn 2018-2025 mới đạt khoảng 4-5%, còn khá xa mục tiêu tối thiểu 7% vào năm 2030. Dù sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, lực lượng sáng tạo trẻ và thị trường gần 100 triệu dân, công nghiệp văn hóa vẫn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng bởi thiếu một khuôn khổ pháp lý mang tính kiến tạo để kết nối các nguồn lực và thúc đẩy thị trường.

Tờ trình của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhìn nhận, các quy định hiện hành chủ yếu tiếp cận công nghiệp văn hóa dưới góc độ quản lý nội dung, trong khi còn thiếu những cơ chế thúc đẩy phát triển kinh tế.

Hệ thống pháp luật phân tán ở nhiều luật chuyên ngành như điện ảnh, sở hữu trí tuệ, du lịch, quảng cáo, xuất bản..., tạo nên những "khoảng trống", "điểm mờ" và "điểm nghẽn" về thể chế. Đặc biệt, sự phát triển mạnh mẽ của nền tảng số xuyên biên giới cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về một hành lang pháp lý đủ sức vừa bảo vệ thị trường nội địa, vừa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sáng tạo Việt Nam cạnh tranh trên quy mô toàn cầu.

Chính vì vậy, dự thảo Luật được xây dựng với định hướng trở thành một "Luật kiến tạo", vừa tháo gỡ các điểm nghẽn, làm rõ những khoảng trống pháp lý, vừa bổ sung các cơ chế mới để khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo và đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng của nền kinh tế.

Một trong những điểm mới nổi bật là lần đầu tiên công nghiệp văn hóa được tiếp cận dưới góc nhìn của một chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Dự thảo Luật xác định chuỗi giá trị bao gồm các công đoạn sáng tạo, phát triển, sản xuất, phân phối, phổ biến, thương mại hóa, tiêu dùng và tái đầu tư; đồng thời coi các hoạt động nghiên cứu, đào tạo, ứng dụng công nghệ, xây dựng thương hiệu, quản trị tài sản trí tuệ và cung cấp dịch vụ tài chính là những mắt xích hỗ trợ quan trọng.

Trên cơ sở đó, dự thảo Luật đề xuất xây dựng một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa đồng bộ với sự tham gia của các chủ thể sáng tạo, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, quỹ đầu tư, tổ chức nghề nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước. Hệ sinh thái này sẽ được đánh giá định kỳ hằng năm trên cơ sở dữ liệu thống kê chuyên ngành, làm căn cứ điều chỉnh chính sách và phân bổ nguồn lực phát triển.

Đáng chú ý, lần đầu tiên dự thảo Luật đưa ra cơ chế hỗ trợ toàn diện cho hoạt động sáng tạo thông qua việc đầu tư và vận hành bộ công cụ sáng tạo dùng chung. Theo đó, Nhà nước sẽ đầu tư hoặc đặt hàng phát triển các công cụ phục vụ sáng tạo, biên tập, thiết kế, sản xuất, phân phối sản phẩm văn hóa; hỗ trợ tiếp cận kho học liệu, kết nối với hệ thống đăng ký quyền tác giả và các nền tảng số.

Mọi tổ chức, cá nhân đều có cơ hội sử dụng miễn phí các dịch vụ hỗ trợ cơ bản, trong khi doanh nghiệp được khuyến khích cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng theo cơ chế thị trường. Đặc biệt, quyền sở hữu trí tuệ đối với nội dung do người sáng tạo tạo ra vẫn được bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Một điểm đột phá khác là việc thiết lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các mô hình kinh doanh và công nghệ mới trong công nghiệp văn hóa. Đây được xem là "sandbox" dành cho những ý tưởng sáng tạo chưa có quy định điều chỉnh hoặc pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn.

Các tổ chức, doanh nghiệp đủ điều kiện sẽ được phép thử nghiệm trong phạm vi, thời gian và địa bàn xác định, đồng thời được áp dụng cơ chế miễn trừ trách nhiệm khi thực hiện đúng quy trình, không vụ lợi và không cố ý vi phạm pháp luật.

Cách tiếp cận này cho thấy tư duy quản lý đang chuyển mạnh từ tiền kiểm sang kiến tạo phát triển, tạo dư địa cho các mô hình sáng tạo mới hình thành và hoàn thiện trước khi được luật hóa. Đây cũng là một trong những nền tảng quan trọng để Việt Nam xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa, từng bước hình thành những doanh nghiệp, sản phẩm và thương hiệu có khả năng cạnh tranh ở khu vực và quốc tế.

Hoàn thiện hạ tầng, tài chính để đưa sáng tạo thành giá trị kinh tế

Một trong những nội dung được kỳ vọng tạo chuyển biến mạnh mẽ là việc dự thảo Luật dành riêng một chương quy định về hạ tầng công nghiệp văn hóa. Thay vì chỉ tập trung vào các thiết chế văn hóa truyền thống, dự thảo bổ sung hàng loạt khái niệm mới như tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm và khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, không gian sáng tạo, hạ tầng văn hóa số và kho dữ liệu văn hóa số quốc gia. Đây sẽ là nền tảng để hình thành những hệ sinh thái sáng tạo quy mô lớn, nơi các doanh nghiệp, nghệ sĩ, nhà thiết kế, nhà phát triển công nghệ và các chủ thể sáng tạo có thể cùng hoạt động trong một môi trường liên kết.

Đáng chú ý, dự thảo mở ra nhiều cơ chế thông thoáng để phát triển hạ tầng. Các dự án tổ hợp sáng tạo văn hóa và khu công nghiệp sáng tạo văn hóa có thể được đầu tư bằng ngân sách nhà nước, theo phương thức đối tác công tư hoặc vốn doanh nghiệp. Đối với các dự án phù hợp quy hoạch, cơ quan có thẩm quyền được chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư mà không phải thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư trong những trường hợp luật quy định.

Song song với việc đầu tư hạ tầng vật chất, dự thảo cũng định hướng phát triển hạ tầng văn hóa số với kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và các nền tảng số phục vụ lưu trữ, chia sẻ, khai thác dữ liệu văn hóa. Đây được xem là nền móng quan trọng để thúc đẩy chuyển đổi số, hỗ trợ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và phát triển thị trường nội dung số trong thời gian tới.

Một điểm nhấn khác là hệ thống chính sách tài chính được thiết kế theo hướng đa dạng hóa nguồn lực đầu tư. Ngoài ngân sách nhà nước, dự thảo Luật khuyến khích huy động nguồn vốn từ doanh nghiệp, quỹ đầu tư, quỹ văn hóa nghệ thuật, nguồn tài trợ hợp pháp trong và ngoài nước để phát triển công nghiệp văn hóa. Đồng thời, Nhà nước ưu tiên bố trí nguồn lực cho phát triển hạ tầng, nhân lực, tài sản trí tuệ và các sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm mang bản sắc Việt Nam có khả năng xuất khẩu.

Lần đầu tiên, cơ chế đồng đầu tư giữa Nhà nước và khu vực tư nhân cũng được đề xuất. Theo đó, cơ quan nhà nước có thể cùng góp vốn, mua cổ phần, chia sẻ rủi ro hoặc chia sẻ doanh thu với doanh nghiệp để phát triển tài sản trí tuệ gốc, sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm hoặc các sản phẩm có hàm lượng bản sắc Việt Nam cao. Cơ chế này được kỳ vọng sẽ góp phần giảm rủi ro cho nhà đầu tư, đồng thời tạo động lực để hình thành những thương hiệu văn hóa có sức cạnh tranh quốc tế.

Đối với doanh nghiệp, dự thảo Luật mở rộng nhiều chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng và đầu tư. Hoạt động đầu tư xây dựng hạ tầng công nghiệp văn hóa được xếp vào nhóm ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư. Các dự án sản xuất tài sản trí tuệ gốc, sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm cũng được hưởng mức ưu đãi cao về thuế thu nhập doanh nghiệp, đất đai và các chính sách hỗ trợ đầu tư khác theo quy định của pháp luật.

Một nội dung đáng chú ý khác là cơ chế khai thác tài sản trí tuệ như một loại tài sản có thể tham gia thị trường tài chính. Dự thảo quy định tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa được sử dụng để góp vốn hoặc làm tài sản bảo đảm trong quan hệ tín dụng. Đồng thời, Nhà nước xây dựng cơ chế bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ định giá, hình thành sàn giao dịch quyền sở hữu trí tuệ và sản phẩm công nghiệp văn hóa nhằm thúc đẩy thương mại hóa tài sản sáng tạo.

Bên cạnh việc phát triển thị trường, dự thảo cũng dành nhiều chính sách cho phát triển nguồn nhân lực. Các cơ sở giáo dục được khuyến khích mở ngành đào tạo liên ngành, tăng cường hợp tác với doanh nghiệp, nghệ sĩ, nghệ nhân và chuyên gia trong đào tạo; đồng thời triển khai các chương trình học bổng, đào tạo tài năng, thu hút nhân lực chất lượng cao trong và ngoài nước tham gia phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam.

Theo dự thảo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, hệ thống chỉ tiêu thống kê và bộ chỉ số phát triển công nghiệp văn hóa, đồng thời hằng năm công bố báo cáo về quy mô, cơ cấu và mức đóng góp của ngành vào nền kinh tế. Những công cụ quản trị này được kỳ vọng sẽ giúp việc hoạch định chính sách dựa trên dữ liệu, đồng thời tạo cơ sở đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực và năng lực phát triển của từng địa phương.

Với phạm vi điều chỉnh toàn diện từ hệ sinh thái sáng tạo, hạ tầng, nhân lực, tài sản trí tuệ, thị trường đến cơ chế tài chính và ưu đãi đầu tư, Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển.

Khi những rào cản thể chế từng bước được tháo gỡ, nguồn lực xã hội được khơi thông và sức sáng tạo được bảo hộ, công nghiệp văn hóa sẽ có thêm điều kiện để trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần gia tăng sức mạnh mềm quốc gia và tạo động lực tăng trưởng mới trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Cú hích cho kinh tế sáng tạo Việt Nam
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng tạo bước ngoặt về thể chế, kết nối chuỗi giá trị sáng tạo, đưa công nghiệp...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư