Thứ Tư, Ngày 11 tháng 02 năm 2026,
Tin mới y tế ngày 11/2: Trữ tế bào gốc, đầu tư y học dự phòng trước nguy cơ tim mạch
D.Ngân - 11/02/2026 10:07
 
Trong nhiều gia đình, bệnh tim mạch và đột quỵ không chỉ là nỗi ám ảnh của tuổi già mà còn trở thành nỗi lo kéo dài qua nhiều thế hệ.

Trữ tế bào gốc, đầu tư y học dự phòng trước nguy cơ tim mạch

Khi chứng kiến người thân lần lượt mắc bệnh, không ít người đặt câu hỏi liệu nguy cơ ấy có thể “di truyền” và liệu có cách nào chuẩn bị trước cho tương lai. Với chị Phụng, 43 tuổi, sống tại TP.HCM, câu trả lời đến vào thời điểm đặc biệt nhất của cuộc đời, khi chị mang thai sau nhiều năm hiếm muộn và quyết định lưu trữ tế bào gốc cho con trai để dự phòng điều trị bệnh.

Tế bào gốc đã được sử dụng điều trị một số bệnh về máu và ung thư hạch. 

Chị Phụng đến viện điều trị hiếm muộn năm 2024. Qua thăm khám, bác sỹ chẩn đoán chị vô sinh do lớn tuổi và ứ dịch vòi trứng. Chị được kích trứng, thu được 8 trứng và tạo 6 phôi chất lượng. Tuy nhiên, do tình trạng ứ dịch hai bên vòi trứng, các bác sỹ tiến hành nội soi buồng tử cung lấy mẫu sinh thiết nội mạc tử cung, đồng thời cắt hai tai vòi trứng.

Kết quả giải phẫu bệnh xác định chị bị viêm nội mạc tử cung mạn tính. Sau điều trị bằng thuốc kháng sinh, chị được chuyển phôi vào tử cung và đậu thai vào tháng 5/2025. Thai kỳ diễn tiến thuận lợi, thai nhi phát triển tốt. Đến tuần thai 36, vợ chồng chị quyết định đăng ký lưu trữ tế bào gốc để dự phòng điều trị bệnh, do gia đình có nhiều người mắc bệnh tim mạch và đột quỵ.

Theo TS.Thẩm Thị Thu Nga, Trung tâm Tế bào gốc, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, tế bào gốc có khả năng ứng dụng trong điều trị 80 bệnh lý nguy hiểm như bệnh về máu, miễn dịch, tim mạch, thần kinh và một số bệnh chuyển hóa.

Với những gia đình có người thân mắc bệnh tim mạch, đột quỵ, lưu trữ tế bào gốc được xem là một phương án dự phòng y học hiện đại, giúp tăng thêm cơ hội điều trị trong tương lai nếu không may mắc bệnh.

Các bác sỹ cho biết, tế bào gốc trung mô, có thể phân lập từ mô dây rốn, có khả năng tiết ra các yếu tố tăng trưởng và các exosome, qua đó có tác dụng giảm viêm, ngăn tế bào chết, giảm tạo sẹo, hỗ trợ tạo mạch, thúc đẩy quá trình tái tạo của các tế bào cơ tim và góp phần phục hồi chức năng tim.

Trong lĩnh vực đột quỵ, các nhóm tế bào gốc trung mô và tế bào gốc tạo máu được báo cáo có khả năng homing về não sau đột quỵ. Các cơ chế được ghi nhận gồm chống viêm, ngăn tế bào chết, kích thích phục hồi não và tạo mạch.

Tế bào gốc trung mô cũng được đề cập có thể giảm tổn thương chất trắng và ảnh hưởng nhận thức sau đột quỵ, đồng thời có thể biệt hóa thành tế bào thần kinh khi ở cạnh tế bào thần kinh và có khả năng sống sót lâu trong não. Nhiều thử nghiệm lâm sàng đã tiến hành và đánh giá liệu pháp tế bào là an toàn và có hiệu quả.

Ở tuần thai 39, chị Phụng sinh bé trai khỏe mạnh, nặng 3,8 kg. Máu và mô dây rốn của bé được thu thập và đưa về Ngân hàng Mô để lưu trữ. Toàn bộ quá trình xử lý và lưu trữ tế bào gốc được thực hiện theo quy trình khép kín, đảm bảo vô trùng và kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt.

Theo TS.Thu Nga, tế bào gốc từ máu và mô dây rốn sau khi thu thập và xử lý có thể lưu trữ dài hạn trong nitrogen lỏng dưới -150 độ C. Nguồn tế bào gốc này sẽ được sử dụng khi người lưu trữ hoặc người thân có chỉ định phù hợp trong tương lai.

Sau 48 giờ chào đời, bác sỹ lấy máu ở gót chân con trai chị Phụng để xét nghiệm sàng lọc 73 bệnh tiềm ẩn. Kết quả không phát hiện bất thường bẩm sinh do di truyền liên quan máu, hồng cầu và tim mạch.

Chị Phụng hạnh phúc đón con đầu lòng ở tuổi 43 sau 5 năm hiếm muộn. Với chị, việc lưu trữ tế bào gốc không chỉ là một quyết định y khoa mà còn là một cách “gửi gắm” hy vọng, một sự chuẩn bị thầm lặng để con có thêm cơ hội trong tương lai, nhất là khi gia đình từng chứng kiến quá nhiều cuộc chiến với bệnh tim mạch và đột quỵ.

Trong bức tranh y tế rộng hơn, những con số cho thấy gánh nặng bệnh tim mạch tại Việt Nam đang rất lớn. Ước tính Việt Nam có khoảng 1,6 triệu người suy tim. Tỷ lệ đột quỵ ở Việt Nam là 1.541 trên 100.000 dân, thuộc nhóm cao nhất trong khu vực Đông Nam Á, tạo gánh nặng cho hệ thống y tế.

PGS-TS.Phạm Nguyễn Vinh, Giám đốc Trung tâm Tim mạch cho biết, hiện có nhiều nghiên cứu khẳng định liệu pháp tế bào gốc giúp giảm suy tim và hỗ trợ trong một số bệnh thần kinh.

Tế bào gốc đã được sử dụng điều trị một số bệnh về máu và ung thư hạch. Tại Việt Nam, phương pháp điều trị bệnh tim mạch phối hợp ứng dụng liệu pháp tế bào gốc đã được nghiên cứu từ năm 2010 đến nay, mở ra thêm cơ hội sống khỏe cho bệnh nhân tim mạch.

Tuy nhiên, các chuyên gia nhấn mạnh liệu pháp tế bào gốc trong điều trị bệnh tim mạch và đột quỵ hiện chưa phải là phương pháp điều trị thường quy. Phần lớn vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu và thử nghiệm. Việc ứng dụng tế bào gốc cần tuân thủ chặt chẽ quy định của Bộ Y tế.

Câu chuyện của chị Phụng cho thấy y học hiện đại không chỉ tập trung vào chữa bệnh mà ngày càng hướng đến dự phòng, chuẩn bị và mở rộng cơ hội điều trị trong tương lai. Trong một xã hội đang đối mặt gánh nặng bệnh không lây nhiễm ngày càng lớn, những quyết định y khoa dự phòng như lưu trữ tế bào gốc đang trở thành một lựa chọn được nhiều gia đình quan tâm, như một cách giữ thêm hy vọng cho thế hệ sau.

Suy giáp biến chứng tràn dịch màng tim, cảnh báo nguy cơ bị bỏ sót ở người cao tuổi

Khó thở, tức ngực kéo dài nhiều ngày, tưởng là di chứng sau đột quỵ, bà Đào, 81 tuổi, chỉ nhập viện khi tình trạng mệt mỏi ngày càng tăng.

Kết quả thăm khám cho thấy nguyên nhân không nằm ở não hay tim mạch thông thường, mà xuất phát từ suy giáp nặng, đã gây biến chứng tràn dịch màng tim và màng phổi.

Theo bác sỹ tim mạch Huỳnh Thanh Kiều, suy giáp là bệnh lý thường gặp ở phụ nữ trên 60 tuổi. Bệnh tiến triển chậm, triệu chứng không điển hình nên dễ bị bỏ sót hoặc chẩn đoán muộn. Khi bệnh kéo dài và trở nặng, khoảng 30% người bệnh có thể xuất hiện các biến chứng tim mạch như suy tim sung huyết, rối loạn lipid máu và tràn dịch màng ngoài tim.

Nửa năm trước, bà Đào từng bị nhồi máu não. Sau điều trị, bà hồi phục tốt, không còn yếu liệt. Tuy nhiên, khoảng một tuần trước khi nhập viện, bà bắt đầu cảm thấy mệt nhiều, khó thở và thỉnh thoảng tức ngực. Nghĩ đây là di chứng sau đột quỵ, bà nghỉ ngơi và tiếp tục dùng thuốc theo toa cũ nhưng các triệu chứng không cải thiện.

Kết quả siêu âm tim ghi nhận bà Đào bị tràn dịch màng ngoài tim mức độ trung bình, phân suất tống máu thất trái bảo tồn ở mức 55%, kèm dày thất trái, hở van hai lá trung bình và có ít dịch màng phổi hai bên. Qua thăm khám và làm các xét nghiệm chuyên sâu, bác sỹ xác định bệnh nhân bị suy giáp nặng do viêm tuyến giáp tự miễn.

Suy giáp là tình trạng tuyến giáp hoạt động kém, không sản xuất đủ hormone cần thiết cho cơ thể. Do hormone tuyến giáp ảnh hưởng đến hầu hết các cơ quan, khi thiếu hụt, quá trình chuyển hóa và hoạt động sinh lý bị chậm lại. Ở người cao tuổi, các biểu hiện suy giáp thường không rõ ràng, dễ nhầm lẫn với các bệnh lý nội khoa khác như tim mạch, hô hấp hoặc di chứng thần kinh.

Theo các bác sỹ, cơ chế suy giáp gây tràn dịch màng ngoài tim liên quan đến tăng tính thấm của các mạch máu thượng tâm mạc và giảm dẫn lưu bạch huyết, khiến dịch tích tụ dần trong khoang màng tim. Tràn dịch màng phổi cũng có thể xuất hiện do cơ chế tương tự, dù ít gặp hơn. Do dịch tích tụ từ từ, phần lớn các trường hợp không gây chèn ép tim cấp, khiến người bệnh và cả thầy thuốc dễ chủ quan.

Trong trường hợp của bà Đào, lượng dịch màng tim và màng phổi ở mức trung bình nên chưa cần can thiệp chọc hút. Bệnh nhân được điều trị bằng hormone tuyến giáp theo đúng phác đồ. Sau ba ngày điều trị, tình trạng khó thở và tức ngực cải thiện rõ rệt, bà ăn uống khá hơn. Một tuần sau, siêu âm kiểm tra cho thấy lượng dịch màng tim và màng phổi giảm đáng kể, bệnh nhân đủ điều kiện xuất viện.

Theo các bác sỹ, hiện chưa có biện pháp phòng ngừa suy giáp tuyệt đối. Tuy nhiên, nếu được phát hiện sớm, điều trị bằng hormone thay thế mang lại hiệu quả rất tốt, giúp kiểm soát bệnh và ngăn ngừa biến chứng nguy hiểm.

Những người có yếu tố nguy cơ như tiền sử bệnh tự miễn, từng xạ trị vùng đầu cổ, phẫu thuật tuyến giáp, điều trị iod phóng xạ, bướu cổ, tiền sử gia đình mắc bệnh tuyến giáp hoặc đang sử dụng thuốc ảnh hưởng đến chức năng tuyến giáp cần được theo dõi và kiểm tra định kỳ.

Bác sỹ cũng khuyến cáo người dân, đặc biệt là người cao tuổi, không nên chủ quan với các dấu hiệu nghi ngờ suy giáp như mệt mỏi kéo dài, sợ lạnh, táo bón, da khô, tăng cân, phù mặt, khàn giọng, giảm trí nhớ, yếu cơ.

Khi xuất hiện các triệu chứng tim mạch như nhịp tim chậm, mạch yếu, hạ huyết áp, phù, khó thở hoặc chán ăn, bệnh có thể đã biến chứng. Việc thăm khám sớm và tuân thủ điều trị lâu dài là yếu tố then chốt giúp người bệnh kiểm soát tốt suy giáp và tránh những biến chứng nguy hiểm cho tim mạch và các cơ quan khác.

Phát hiện bệnh tim nặng từ triệu chứng tê tay

Tê bàn tay trái râm ran kéo dài nhiều ngày, tưởng chỉ là biểu hiện của bệnh lý cơ xương khớp, đến khi cả cánh tay gần như mất cảm giác, chị Liên, 54 tuổi, mới đi khám và bất ngờ phát hiện mình mắc bệnh tim mạch nặng, tiềm ẩn nguy cơ đột quỵ và biến chứng đe dọa tính mạng.

Khoảng 10 ngày trước khi nhập viện, chị Liên bắt đầu có cảm giác tê mỏi ở bàn tay trái. Nghĩ rằng mình mắc hội chứng ống cổ tay do làm việc nhiều, chị tự giảm cường độ lao động và nghỉ ngơi. Tuy nhiên, các triệu chứng không thuyên giảm mà ngày càng rõ rệt hơn. Bàn tay tê râm ran kéo dài, không đau nhưng gây khó chịu và ảnh hưởng sinh hoạt hằng ngày.

Hơn một tuần sau, tình trạng đột ngột trở nên nghiêm trọng. Toàn bộ cánh tay trái của chị Liên bị tê bì, gần như mất cảm giác, tay lạnh toát. Lo sợ đây là dấu hiệu đột quỵ, chị đến viện để kiểm tra.

Kết quả siêu âm mạch máu chi trên phát hiện huyết khối lấp đầy động mạch tay trái, gây tắc dòng máu nuôi dưỡng bàn tay. Đây chính là nguyên nhân khiến bệnh nhân bị tê tay kéo dài và đột ngột nặng lên.

Bệnh nhân được chỉ định điều trị kháng đông nhằm ngăn huyết khối lan rộng, đồng thời thực hiện các cận lâm sàng chuyên sâu để xác định nguồn gốc cục máu đông. Kết quả điện tim và siêu âm tim cho thấy chị Liên bị hẹp van hai lá nặng kèm rung nhĩ, hai yếu tố nguy cơ hàng đầu gây hình thành huyết khối trong tim.

Theo BS.CKI Đỗ Anh Tuấn, chuyên khoa nội tim mạch, khi van hai lá bị hẹp, dòng máu từ nhĩ trái xuống thất trái bị cản trở, dẫn đến tình trạng ứ trệ máu trong nhĩ trái. Sự ứ đọng này kéo dài làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông trong buồng tim, đặc biệt là nhĩ trái hoặc tiểu nhĩ trái.

Rung nhĩ khiến tâm nhĩ không còn co bóp nhịp nhàng mà rung hỗn loạn, càng làm máu ứ đọng nhiều hơn, tạo điều kiện thuận lợi để huyết khối hình thành và có thể bong ra khỏi tim, trôi theo dòng máu gây tắc mạch.

Theo bác sỹ Tuấn, trường hợp huyết khối trôi xuống động mạch tay như chị Liên là hiếm gặp. Phần lớn các cục máu đông từ tim trái thường trôi lên não gây đột quỵ, hoặc đến các cơ quan khác như thận, lách, ruột hay chi, gây nhồi máu hoặc thiếu máu cấp tính.

Đây đều là những tình trạng rất nguy hiểm, có thể để lại di chứng nặng nề hoặc đe dọa tính mạng nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời. Trên thực tế, không ít bệnh nhân chỉ được chẩn đoán rung nhĩ hoặc bệnh van tim sau khi nhập viện vì đột quỵ.

Sau 5 ngày điều trị bằng thuốc kháng đông kết hợp thuốc kiểm soát huyết áp, mỡ máu và nhịp tim, tình trạng tê tay của chị Liên cải thiện rõ rệt. Bệnh nhân được xuất viện trong tình trạng ổn định và dự kiến nhập viện trở lại sau vài tuần để phẫu thuật thay van hai lá.

Khác với nhiều trường hợp bệnh tim mạch thường được phát hiện qua các triệu chứng điển hình như đau ngực, khó thở, mệt khi gắng sức, bệnh của chị Liên được chẩn đoán từ biểu hiện tê tay, một triệu chứng rất dễ bị nhầm lẫn với các bệnh lý cơ xương khớp hoặc thần kinh ngoại biên.

Trước đó, chị vẫn khám sức khỏe định kỳ hằng năm, không ghi nhận bất thường và hoàn toàn không có dấu hiệu tim mạch rõ ràng. Theo các bác sỹ, hẹp van hai lá là bệnh lý tiến triển âm thầm trong nhiều năm. Giai đoạn đầu có thể không gây triệu chứng, nhưng về lâu dài làm tăng nguy cơ tăng áp động mạch phổi, suy tim, rung nhĩ và thuyên tắc huyết khối.

Nhiều trường hợp chỉ được phát hiện khi đã xảy ra biến chứng nặng. “Khả năng cao bệnh nhân đã bị hẹp van hai lá từ lâu nhưng chưa được chẩn đoán, dẫn đến rung nhĩ và biến chứng huyết khối”, bác sỹ Kiều nhận định.

Tùy mức độ hẹp van, người bệnh có thể được điều trị nội khoa, can thiệp nong van bằng bóng qua da hoặc phẫu thuật sửa, thay van tim. Song song với điều trị, người bệnh cần duy trì lối sống lành mạnh, hạn chế ăn mặn, kiểm soát cân nặng với chỉ số BMI dưới 23, tránh rượu bia và thuốc lá, khám răng định kỳ để phòng viêm nội tâm mạc nhiễm trùng.

Các bác sỹ khuyến cáo, khi xuất hiện những dấu hiệu bất thường như khó thở, đau tức ngực kéo dài, hồi hộp trống ngực, tê tay chân đột ngột hoặc rối loạn cảm giác không rõ nguyên nhân, người dân cần đi khám sớm để phát hiện kịp thời các bệnh lý tim mạch tiềm ẩn, tránh những biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra.

Phát triển thuốc mới từ công nghệ tế bào gốc
Với khả năng phân hóa thành nhiều loại tế bào khác nhau, tế bào gốc được ứng dụng trong việc điều trị nhiều loại bệnh và đóng vai trò quan...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư