-
Trí tuệ nhân tạo và cơ hội đổi mới toàn diện ngành Dược -
Tăng tốc loại trừ viêm gan virus, giảm gánh nặng ung thư gan tại Việt Nam -
Mức sinh giảm kỷ lục, nhiều địa phương chi tiền khuyến khích sinh đủ 2 con -
Bệnh dại vẫn là mối đe dọa với sức khỏe cộng đồng -
Lần đầu Việt Nam xây dựng thành công hệ gen tham chiếu riêng, mở đường cho y học chính xác
90 ngày giành giật sự sống cho bé gái sinh non chỉ nặng 500 gram
Chào đời khi mới 24 tuần 1 ngày tuổi thai, cân nặng chỉ 500 gram, một bé gái đã bước vào hành trình giành giật sự sống với hàng loạt biến chứng nguy kịch như suy hô hấp, suy tim, nguy cơ nhiễm trùng và suy dinh dưỡng.
Sau hơn 90 ngày được chăm sóc đặc biệt trong lồng ấp, em bé đã tự thở, bú sữa mẹ tốt và đủ điều kiện xuất viện, đánh dấu thêm một thành công của y học sơ sinh Việt Nam trong điều trị trẻ sinh cực non.
![]() |
| Từ em bé chỉ nặng 500 gram, đối mặt với nhiều biến chứng nguy kịch của trẻ sinh cực non, sau hơn 90 ngày điều trị tích cực, bé gái đã tự thở, bú mẹ tốt và được xuất viện. |
Tiếng khóc đầu đời của bé gái chỉ nặng 500 gram là khởi đầu cho một cuộc chiến đầy thử thách. Chào đời khi mới 24 tuần 1 ngày tuổi thai, em thuộc nhóm trẻ sinh cực non với tiên lượng sống rất dè dặt, khi hầu hết các cơ quan trong cơ thể đều chưa phát triển hoàn thiện.
Khi mới 11 ngày tuổi, bé được chuyển khẩn cấp đến Trung tâm Sơ sinh, Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong tình trạng nguy kịch. Theo bác sỹ chuyên khoa II Phạm Hoàng Thái, Trung tâm Sơ sinh, đây là một trong những trường hợp đặc biệt khó điều trị.
Bé đối mặt cùng lúc với nhiều nguy cơ như còn ống động mạch, suy hô hấp phải thở máy kéo dài, nguy cơ nhiễm trùng, khó khăn trong nuôi dưỡng và đặc biệt là thách thức bảo đảm sự phát triển bình thường của não bộ.
Ở trẻ sinh cực non, hầu hết các cơ quan đều chưa trưởng thành. Vì vậy, việc điều trị không chỉ đòi hỏi các kỹ thuật hồi sức sơ sinh chuyên sâu mà còn cần sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều chuyên khoa cùng quá trình theo dõi, chăm sóc liên tục trong nhiều tháng.
Theo bác sỹ Phạm Hoàng Thái, trong những ngày đầu sau sinh, ưu tiên hàng đầu là ổn định hô hấp, tuần hoàn và dinh dưỡng để duy trì sự sống cho trẻ.
"Với những trẻ sinh cực non như vậy, vấn đề quan trọng nhất là phải tối ưu hóa việc chăm sóc trong giai đoạn đầu đời, đặc biệt là hô hấp, tuần hoàn và dinh dưỡng. Trong suốt 11 ngày đầu sau sinh, bé chưa thể ăn qua đường tiêu hóa, hoàn toàn phải nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch. Mục tiêu của chúng tôi là nhanh chóng ổn định các chức năng sống và từng bước giúp bé bắt kịp đà tăng trưởng", bác sỹ Thái cho biết.
Suốt hơn 90 ngày trong lồng ấp, từng nhịp thở của em bé được duy trì bằng các kỹ thuật hồi sức hiện đại, trong khi đội ngũ y, bác sỹ kiên trì theo dõi từng chỉ số sinh tồn, điều chỉnh dinh dưỡng, kiểm soát nhiễm khuẩn và hỗ trợ hô hấp để từng bước đưa em vượt qua giai đoạn nguy hiểm nhất.
Theo các bác sỹ, mục tiêu điều trị đối với trẻ sinh cực non không chỉ là cứu sống mà còn phải tạo điều kiện để trẻ phát triển lâu dài, đặc biệt là phát triển thần kinh.
Ở tuổi thai 24 tuần, não bộ vẫn đang trong giai đoạn hình thành với nhiều cấu trúc chưa hoàn thiện. Vì vậy, việc giúp não phát triển tương đương trẻ đủ tháng là một trong những thách thức lớn nhất của điều trị sơ sinh.
Tin vui là đến thời điểm hiện tại, các mốc phát triển thần kinh của bé đều phù hợp với tuổi hiệu chỉnh. Bé đã có phản xạ bú tốt, các phản xạ sơ sinh đầy đủ và tiếp tục phát triển theo đúng lộ trình.
Một thách thức khác là tình trạng còn ống động mạch - biến chứng rất thường gặp ở trẻ sinh cực non. Khi ống động mạch tồn tại với kích thước lớn, tim phải hoạt động quá tải, làm tăng nguy cơ suy tim và ảnh hưởng đến tuần hoàn của nhiều cơ quan.
"Với những trẻ sinh ở khoảng 23-24 tuần tuổi thai, tỷ lệ còn ống động mạch có ý nghĩa huyết động rất cao. Nếu không được kiểm soát tốt sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tuần hoàn và nhiều cơ quan khác", bác sỹ Phạm Hoàng Thái cho biết.
Rất may, tình trạng này đã được kiểm soát hiệu quả. Hiện chức năng tim của bé gần như trở về bình thường. Sau hơn ba tháng điều trị toàn diện, từ một em bé chỉ nặng 500 gram, nay bé đã đạt 1,8 kg, tự thở, bú mẹ tốt và đủ điều kiện xuất viện.
Đó không chỉ là niềm hạnh phúc vỡ òa của gia đình mà còn là thành quả của sự phối hợp chặt chẽ giữa các thầy thuốc và người thân trong suốt hành trình giành giật sự sống.
Theo các chuyên gia sơ sinh, trẻ sinh dưới 28 tuần tuổi thai, đặc biệt dưới 25 tuần, là nhóm bệnh nhân khó chăm sóc nhất do khả năng sống còn rất mong manh và nguy cơ biến chứng cao.
Ngay sau khi rời bụng mẹ, nguồn dinh dưỡng từ nhau thai bị cắt đột ngột, trong khi hệ tiêu hóa của trẻ chưa đủ khả năng hấp thu. Việc nuôi dưỡng chủ yếu phải dựa vào đường tĩnh mạch trong giai đoạn đầu và chuyển dần sang nuôi ăn qua đường tiêu hóa khi điều kiện cho phép.
"Dinh dưỡng tĩnh mạch chỉ đáp ứng được một phần, còn hệ tiêu hóa của trẻ sinh cực non thì chưa trưởng thành, nên việc nuôi ăn qua đường tiêu hóa vô cùng khó khăn. Đây là yếu tố quyết định rất lớn đến khả năng tăng trưởng và phát triển của em bé", bác sỹ Thái phân tích.
Không chỉ đối mặt với nguy cơ suy dinh dưỡng, trẻ sinh cực non còn có hệ miễn dịch chưa hoàn thiện nên rất dễ mắc các đợt nhiễm trùng nặng. Mỗi lần nhiễm khuẩn đều có thể trở thành thử thách đe dọa trực tiếp đến tính mạng.
Bên cạnh đó là những khó khăn về hô hấp. Khi sinh quá sớm, phổi non nớt buộc phải đảm nhiệm chức năng hô hấp ngay lập tức, khiến nhiều trẻ phải thở máy trong thời gian dài và có nguy cơ mắc bệnh phổi mạn tính. Chỉ một đợt viêm phổi hay nhiễm virus cũng có thể khiến tình trạng hô hấp diễn biến nặng trở lại.
Theo bác sỹ Phạm Hoàng Thái, tại Trung tâm Sơ sinh, các bác sỹ luôn chú trọng kiểm soát nhiễm khuẩn, tối ưu dinh dưỡng, hỗ trợ hô hấp và áp dụng các biện pháp bảo vệ phổi nhằm hạn chế tối đa các tổn thương lâu dài cho trẻ.
Ông cũng lưu ý, khoảng thời gian điều trị kéo dài từ hai đến bốn tháng tại bệnh viện chỉ là bước khởi đầu trong hành trình phát triển của trẻ sinh cực non. Những ảnh hưởng của sinh non có thể kéo dài nhiều năm, thậm chí đến khi trẻ trưởng thành.
Vì vậy, sau khi xuất viện, gia đình cần kiên trì đồng hành cùng con, đưa trẻ tái khám đúng lịch để theo dõi sự phát triển thần kinh, vận động, thị giác, thính giác và các chỉ số tăng trưởng; đồng thời tạo môi trường chăm sóc an toàn, bảo đảm dinh dưỡng, hạn chế nguy cơ nhiễm trùng và phối hợp chặt chẽ với bác sỹ trong suốt quá trình theo dõi.
Việc chăm sóc liên tục sau xuất viện sẽ góp phần giúp trẻ sinh cực non có cơ hội bắt kịp các mốc phát triển, từng bước hòa nhập cuộc sống như những trẻ sinh đủ tháng.
Cơ hội cho trẻ dị tật sọ mặt nhờ kỹ thuật thay thế đại phẫu
Thay vì phải trải qua cuộc đại phẫu bóc tách và tái tạo gần như toàn bộ vùng trán - ổ mắt với nguy cơ mất máu lớn, nhiều trẻ mắc dị tật dính liền sớm khớp sọ tại Bệnh viện Nhi Trung ương đã được điều trị bằng kỹ thuật kéo giãn phức hợp trán - ổ mắt.
Chỉ với tốc độ kéo giãn 1mm mỗi ngày, phần xương biến dạng được điều chỉnh dần, tạo điều kiện để cơ thể tự hình thành xương mới, mở ra hướng điều trị ít xâm lấn và an toàn hơn cho trẻ mắc dị tật sọ mặt.
Dị tật dính liền sớm khớp sọ trán - đỉnh một bên là một bệnh lý bẩm sinh hiếm gặp nhưng để lại nhiều hệ lụy đối với sự phát triển của trẻ. Không chỉ làm biến dạng vùng trán, hốc mắt và khuôn mặt, tình trạng này còn có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của hộp sọ, não bộ và chức năng thị giác nếu không được điều trị kịp thời.
Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, nhiều bệnh nhi mắc dị tật này hiện được điều trị bằng kỹ thuật kéo giãn phức hợp trán - ổ mắt, thay thế cho phương pháp đại phẫu tái tạo hộp sọ vốn được áp dụng trước đây. Đây được đánh giá là bước tiến quan trọng trong lĩnh vực phẫu thuật tạo hình sọ mặt trẻ em, giúp giảm xâm lấn, hạn chế mất máu và nâng cao hiệu quả điều trị.
Khác với phương pháp truyền thống phải tháo rời gần như toàn bộ khối xương trán - ổ mắt để tạo hình rồi cố định lại, kỹ thuật mới tận dụng chính khả năng tái tạo của cơ thể. Sau khi tạo hình vùng trán - ổ mắt, các bác sỹ đặt hệ thống kéo giãn chuyên dụng.
Thiết bị được điều chỉnh hai lần mỗi ngày, mỗi lần kéo 0,5 mm, tương đương 1 mm mỗi ngày. Phần xương biến dạng sẽ dịch chuyển từ từ, tạo khoảng trống để xương mới dần hình thành, đồng thời các mô mềm cũng thích nghi theo sự thay đổi của khung xương.
Theo thời gian, phần trán bị lõm dần được đưa ra phía trước, hốc mắt và sống mũi trở nên cân đối hơn, giúp cải thiện rõ rệt hình dạng khuôn mặt cũng như tạo thêm không gian cho hộp sọ phát triển.
TS.Đặng Hoàng Thơm, Trưởng Khoa Sọ mặt và Tạo hình, Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, dính liền sớm khớp sọ trán - đỉnh một bên xảy ra khi đường khớp sọ đóng sớm bất thường ngay từ những tháng đầu đời. Hậu quả là hộp sọ phát triển không cân xứng, vùng trán bên tổn thương bị lõm, bên đối diện nhô cao, hốc mắt và sống mũi lệch khiến khuôn mặt trẻ biến dạng rõ rệt.
Tuy nhiên, những ảnh hưởng của bệnh không chỉ dừng lại ở yếu tố thẩm mỹ. Việc khớp sọ đóng sớm còn có thể làm thay đổi sự phát triển của hộp sọ, nền sọ và toàn bộ khối xương hàm mặt.
Trẻ có nguy cơ bị lệch mũi, biến dạng hốc mắt, mất cân xứng xương gò má, lệch khớp cắn, nghiêng đầu, lác mắt, loạn thị hoặc nhược thị. Một số trường hợp còn có thể tăng áp lực nội sọ, ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của não bộ.
Chứng kiến sự thay đổi của con sau quá trình điều trị, chị T.H., mẹ của một bệnh nhi đang điều trị tại Khoa Sọ mặt và Tạo hình chia sẻ, trước đây mắt và mũi của con bị lệch, phần trán bên trái lõm rõ. Sau mỗi lần bác sỹ điều chỉnh thiết bị kéo giãn, khuôn mặt của con thay đổi từng chút một. Đến nay, khuôn mặt đã cân đối và hài hòa hơn rất nhiều.
Một phụ huynh khác là chị N.A. cho biết, điều khiến gia đình yên tâm nhất không chỉ là sự thay đổi về ngoại hình mà còn là cơ hội phát triển lâu dài của con. "Trước đây tôi luôn lo khớp sọ đóng sớm sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển não bộ. Nay hộp sọ được mở rộng, tạo thêm không gian cho não phát triển nên cả gia đình nhẹ nhõm hơn rất nhiều", chị chia sẻ.
Theo TS.Đặng Hoàng Thơm, trước đây phương pháp điều trị chủ yếu là phẫu thuật tịnh tiến trán - ổ mắt. Đây là cuộc đại phẫu phức tạp, trong đó toàn bộ khối xương trán - ổ mắt được lấy ra ngoài để tạo hình rồi cố định trở lại. Phẫu thuật kéo dài, nguy cơ mất máu lớn, đồng thời vẫn có khả năng tái phát biến dạng do khuyết xương.
Để khắc phục những hạn chế đó, bệnh viện đã triển khai kỹ thuật kéo giãn phức hợp trán - ổ mắt dựa trên nguyên lý tạo xương dưới tác động của lực kéo. Khi hai đầu xương được tách ra từ từ và có kiểm soát, cơ thể sẽ tự tạo mô xương mới để lấp đầy khoảng trống, trong khi các mô mềm cũng dần thích nghi với sự thay đổi.
Khi khoảng cách kéo giãn đạt trung bình khoảng 30mm, quá trình kéo sẽ dừng lại. Trẻ tiếp tục được theo dõi khoảng ba tháng để xương mới hình thành ổn định trước khi tháo thiết bị.
"Kỹ thuật có thể thực hiện từ khi trẻ khoảng 6 tháng tuổi. Việc kéo giãn đến đâu, xương mới hình thành đến đó giúp hạn chế khuyết xương, giảm nhu cầu ghép xương và giảm nguy cơ tái phát biến dạng, đồng thời mang lại hiệu quả thẩm mỹ tốt hơn", Tiến sỹ, bác sỹ Đặng Hoàng Thơm cho biết.
Đến nay, 11 trẻ mắc dính liền sớm khớp sọ trán - đỉnh một bên đã được điều trị thành công bằng kỹ thuật này tại Bệnh viện Nhi Trung ương.
Vết xước nhỏ khiến người đàn ông viêm gân vì biến chứng tiểu đường
Chỉ từ một vết xước nhỏ phía sau gót chân, người đàn ông 68 tuổi mắc tiểu đường gần 20 năm đã phải đối mặt với tình trạng viêm gân gót Achilles, đau nhức kéo dài, khó đi lại và nguy cơ loét, hoại tử nếu không được điều trị kịp thời.
Các bác sỹ cảnh báo, đây là biến chứng cơ xương khớp dễ bị bỏ qua ở người bệnh đái tháo đường nhưng có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng.
Mắc đái tháo đường gần 20 năm, ông Nhựt (68 tuổi) không ngờ một vết trầy xước nhỏ phía sau cổ chân trái lại trở thành khởi đầu của biến chứng nguy hiểm. Ban đầu, vết thương không lớn nhưng sau nhiều tuần, ông xuất hiện tình trạng đau nhức, căng cứng vùng gót chân, đi lại khó khăn.
Dù liên tục sử dụng thuốc kháng sinh và giảm đau, vết thương không những không cải thiện mà còn lở loét nặng hơn, xuất hiện mô hoại tử. Khi đến khám tại viện, các bác sỹ xác định ông không chỉ bị nhiễm trùng vết thương mà còn mắc viêm gân gót Achilles do biến chứng của bệnh đái tháo đường.
Theo Ths.Nguyễn Thị Kim Tuyền, người điều trị cho bệnh nhân, vết trầy xước không được chăm sóc đúng cách đã hình thành nhiều mô hoại tử, buộc phải cắt lọc để làm sạch và kích thích mô mới phát triển.
Điều đáng lo ngại hơn là quá trình thăm khám chuyên sâu cho thấy người bệnh đã xuất hiện tình trạng viêm gân gót chân, một biến chứng cơ xương khớp thường gặp nhưng dễ bị bỏ sót ở người mắc đái tháo đường kéo dài.
Theo bác sỹ Tuyền, viêm gân do đái tháo đường xảy ra khi tình trạng tăng đường huyết kéo dài làm thay đổi cấu trúc collagen và giảm lưu lượng máu nuôi gân. Đường huyết cao tạo ra các sản phẩm glycation bền vững (AGEs), khiến các sợi collagen trở nên cứng hơn, giảm độ đàn hồi và làm tăng nguy cơ tổn thương, thậm chí đứt gân.
Người bệnh thường có biểu hiện đau, cứng khớp, sưng vùng gân. Các tổn thương phổ biến gồm ngón tay lò xo, hội chứng ống cổ tay và viêm gân gót Achilles.
Đối với gân Achilles, gân lớn nhất của cơ thể nằm phía sau gót chân khi bị tổn thương sẽ làm giảm khả năng vận động của khớp cổ chân. Sự hạn chế này khiến áp lực dồn nhiều hơn lên vùng giữa bàn chân trong mỗi bước đi, làm tăng nguy cơ hình thành loét bàn chân. Nếu không được điều trị kịp thời, người bệnh có thể đối mặt với nguy cơ hoại tử, thậm chí phải cắt cụt chi.
Sau khi làm sạch vết thương, cắt bỏ mô hoại tử và điều trị chống viêm, các bác sỹ đồng thời tập trung kiểm soát đường huyết cho ông Nhựt. Người bệnh được xây dựng chế độ dinh dưỡng, luyện tập phù hợp và sử dụng thuốc theo đúng chỉ định nhằm duy trì đường huyết ổn định, hạn chế tình trạng dao động như trước.
Theo bác sỹ Nguyễn Thị Kim Tuyền, người mắc đái tháo đường có nguy cơ mắc các bệnh lý cơ xương khớp cao gấp ba lần so với người bình thường, trong đó các bệnh lý về gân thường khó điều trị hơn. Nguy cơ này đặc biệt tăng ở những người có đường huyết kiểm soát kém hoặc đã mắc bệnh trên 5 năm.
"Điều trị ban đầu bao gồm tối ưu hóa kiểm soát bệnh đái tháo đường, ngừng các hoạt động làm nặng thêm tổn thương, sử dụng thuốc chống viêm không steroid và chuyển sớm đến vật lý trị liệu", bác sỹ Tuyền cho biết.
Bác sỹ cũng lưu ý, viêm gân ở người đái tháo đường thường tiến triển âm thầm, không có tiền sử chấn thương nên rất dễ bị bỏ qua.
Khi xuất hiện tình trạng đau khi ấn vào gân, sưng, đau khi vận động hoặc cảm giác căng cứng kéo dài mà không có dấu hiệu cải thiện sau khoảng 6 tuần, người bệnh cần đến khám tại chuyên khoa Nội tiết hoặc Đơn vị Bàn chân - Đái tháo đường để được chẩn đoán và điều trị sớm, tránh những biến chứng nặng nề có thể xảy ra.
-
Tin mới y tế ngày 25/7: Thêm kỳ tích hồi sức sơ sinh từ bé gái chỉ nặng nửa kilogram -
Lần đầu Việt Nam xây dựng thành công hệ gen tham chiếu riêng, mở đường cho y học chính xác -
Vụ phòng khám "vẽ" bệnh thu tiền tại Nghệ An: Trước khi khởi tố đã nhiều lần bị xử phạt, đình chỉ hoạt động -
Các bác sỹ cảnh báo những biến chứng nguy hiểm của cúm mùa -
Tin mới y tế ngày 24/7: Phát hiện ung thư phổi sau nhiều năm hút thuốc lào -
Một trái tim nhân ái, ba cuộc đời được hồi sinh -
Cuộc cạnh tranh mới trên thị trường làm đẹp Việt Nam
-
Agribank triển khai chương trình "Vốn ưu đãi - Kinh doanh bứt phá", đa dạng giải pháp vốn đồng hành cùng khách hàng -
TTA LAND trở thành đối tác chiến lược phân phối The Agula -
Lương Sơn chuyển mình: Đất nền Hoà Sơn hút dòng tiền nhờ hạ tầng đột phá -
Nutifood và Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử hợp tác phát triển nhân lực số -
Việt Nam - Nhật Bản thúc đẩy hợp tác nghiên cứu công nghệ lò phản ứng hạt nhân module nhỏ -
Bánh Trung thu Kinh Đô chính thức khởi động chiến dịch mùa Trăng 2026

