Thứ Năm, Ngày 17 tháng 09 năm 2026,
Tin mới y tế ngày 17/9: Việt Nam già hóa nhanh, áp lực chăm sóc người cao tuổi ngày càng lớn
D.Ngân - 17/09/2026 09:26
 
Việt Nam có khoảng 16,5 triệu người từ 60 tuổi trở lên trong năm 2026 và dự báo bước vào giai đoạn dân số già vào năm 2036. Tuổi thọ tăng nhưng khoảng cách giữa sống lâu và sống khỏe vẫn lớn, đặt hệ thống y tế, an sinh và chăm sóc dài hạn trước những yêu cầu mới.

Việt Nam già hóa nhanh, áp lực chăm sóc người cao tuổi ngày càng lớn

Già hóa dân số đang diễn ra với tốc độ nhanh hơn khả năng chuẩn bị của nhiều thiết chế xã hội. Năm 2026, Việt Nam có khoảng 16,5 triệu người từ 60 tuổi trở lên, chiếm khoảng 16% dân số. Dự báo chỉ khoảng một thập kỷ nữa, vào năm 2036, Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn dân số già.

content - 2026-09-17T090517.981
Năm 2026, Việt Nam có khoảng 16,5 triệu người từ 60 tuổi trở lên, chiếm khoảng 16% dân số.

Nhưng tốc độ gia tăng số người cao tuổi mới chỉ phản ánh một phần sức ép. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam hiện khoảng 74,7 năm, trong lúc số năm sống khỏe mạnh chỉ khoảng 65,4 năm, tạo ra khoảng cách gần một thập kỷ. Khoảng 60,9% người cao tuổi mắc từ ba bệnh trở lên, bệnh không lây nhiễm chiếm khoảng 95% gánh nặng bệnh tật. Khoảng 55% gặp khó khăn trong đi lại và 45% có ít nhất một khó khăn trong sinh hoạt hằng ngày.

Những con số này đặt ra một bài toán lớn hơn chuyện kéo dài tuổi thọ. Một xã hội sống lâu hơn đồng thời phải chuẩn bị năng lực để người dân có thể sống khỏe lâu hơn, giảm số năm phụ thuộc vào chăm sóc và duy trì khả năng tham gia đời sống gia đình, cộng đồng.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Người cao tuổi Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026 - 2031, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương cho rằng thách thức “chưa giàu đã già” cùng gánh nặng bệnh tật đặt ra yêu cầu cấp bách đối với hệ thống y tế và toàn xã hội. Thích ứng với già hóa dân số không thể chỉ là giải pháp tình thế mà cần trở thành nhiệm vụ chiến lược lâu dài.

Cách tiếp cận đối với người cao tuổi cũng đang thay đổi. Thay vì chủ yếu nhìn nhận đây là nhóm cần trợ giúp, chính sách hướng tới phát huy kinh nghiệm, tri thức, vốn sống và khả năng tiếp tục đóng góp của người cao tuổi. Cùng với những thách thức về y tế và an sinh, già hóa dân số cũng mở ra nhu cầu lớn đối với dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp và sự phát triển của “kinh tế bạc”.

Một trong những thay đổi quan trọng được Bộ Y tế đặt ra là xây dựng mạng lưới chăm sóc dựa trên gia đình, cộng đồng và y tế cơ sở thay vì phụ thuộc chủ yếu vào bệnh viện.

Người cao tuổi cần được chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám định kỳ, lập sổ quản lý và theo dõi sức khỏe tại y tế tuyến xã. Nhóm từ đủ 80 tuổi trở lên được ưu tiên trước, sau đó từng bước mở rộng tới người từ 65 tuổi. Với người không có điều kiện tới cơ sở khám, chữa bệnh, dịch vụ khám và điều trị tại nhà cần được tổ chức phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế.

Đây là yêu cầu đáng chú ý trong bối cảnh phần lớn gánh nặng sức khỏe của người cao tuổi liên quan tới bệnh mạn tính. Một người cùng lúc mắc nhiều bệnh cần được theo dõi liên tục hơn là chỉ điều trị từng đợt lúc bệnh trở nặng.

Ở tuyến chuyên sâu, mạng lưới lão khoa tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và trung ương cần tiếp tục được củng cố, cùng các dịch vụ phát hiện sớm bệnh tật, phục hồi chức năng, phẫu thuật chỉnh hình và cung cấp dụng cụ trợ giúp.

Nhưng chăm sóc một xã hội già không thể chỉ dựa vào bác sỹ và bệnh viện. Việt Nam còn cần đội ngũ nhân viên chăm sóc tại nhà, nhân viên công tác xã hội, nhân lực phục hồi chức năng, sức khỏe tâm thần và những người được đào tạo kỹ năng chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng. Thành viên gia đình cũng cần được hướng dẫn để có khả năng chăm sóc đúng cách.

Cùng với y tế, nhu cầu chăm sóc dài hạn sẽ trở nên rõ hơn lúc số người cao tuổi sống một mình, hạn chế khả năng vận động hoặc cần trợ giúp trong sinh hoạt tăng lên. Bộ Y tế đề xuất nghiên cứu các mô hình nhà xã hội dành cho người cao tuổi độc thân, cô đơn, không có người nương tựa; đồng thời phát triển các hình thức chăm sóc dài hạn, chăm sóc có thời hạn, bán trú và chăm sóc an toàn tại cộng đồng.

Nguồn lực nhà nước khó có thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu ngày càng lớn này. Định hướng được đặt ra là Nhà nước bảo đảm thể chế, dịch vụ thiết yếu, tiêu chuẩn chất lượng và hỗ trợ khả năng chi trả, đồng thời huy động nguồn lực xã hội và phát triển hợp tác công - tư.

Một phương án đáng chú ý khác là rà soát quỹ nhà, đất và cơ sở công dôi dư để phát triển dịch vụ chăm sóc và các điểm sinh hoạt cộng đồng. Cơ chế Nhà nước đặt hàng dịch vụ phục vụ người cao tuổi cũng được đề xuất hoàn thiện, cùng việc sửa đổi Luật Người cao tuổi và xây dựng Luật Trợ giúp xã hội theo hướng bao trùm, bền vững hơn.

Thích ứng với già hóa cũng không thể giới hạn trong ngành y tế. Một người cao tuổi dù được chăm sóc sức khỏe tốt vẫn có thể gặp khó khăn nếu nhà ga không có lối tiếp cận phù hợp, vỉa hè khó di chuyển, công trình công cộng thiếu thiết kế hỗ trợ hoặc dịch vụ số quá phức tạp.

Bởi vậy, hạ tầng giao thông, công trình công cộng và dịch vụ công trực tuyến được yêu cầu thiết kế theo hướng thân thiện, dễ tiếp cận. Khả năng tiếp cận của người cao tuổi cần được tính ngay từ quy hoạch, thiết kế, xây dựng và nghiệm thu công trình thay vì sửa chữa sau này.

Các trụ sở cơ quan nhà nước, nhà ga, bến xe, bến tàu, bệnh viện, cơ sở giáo dục, dạy nghề và công trình văn hóa, thể thao hiện hữu cũng cần từng bước được cải tạo. Song song với hạ tầng vật chất là hệ thống dữ liệu về người cao tuổi được kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, tạo cơ sở xác định đúng nhu cầu và tổ chức chính sách phù hợp hơn.

Sốt rét giảm sâu, y tế dự phòng đối mặt những nguy cơ dịch bệnh mới

Tỷ lệ mắc sốt rét tại Việt Nam đã giảm từ 2,8 ca/1.000 dân năm 1991 xuống còn 0,0006 ca/1.000 dân năm 2025. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu, đô thị hóa, giao lưu quốc tế và biến động dân cư đang làm thay đổi bản đồ dịch bệnh, đòi hỏi hệ thống y tế dự phòng phải nâng năng lực phát hiện và ứng phó với những nguy cơ mới.

Từ một bệnh truyền nhiễm từng lưu hành rộng, gây gánh nặng lớn về sức khỏe và tử vong, sốt rét tại Việt Nam đã được đẩy lùi mạnh trong hơn ba thập kỷ. Nhiều tỉnh, thành phố vài năm gần đây không còn ghi nhận trường hợp mắc sốt rét tại địa phương, phạm vi lưu hành bệnh ngày càng thu hẹp, chủ yếu tập trung ở một số khu vực miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa.

Những con số cho thấy rõ sự thay đổi này. Tỷ lệ mắc mới sốt rét từ 2,8 ca/1.000 dân năm 1991 giảm xuống 0,87 ca/1.000 dân năm 2001, còn 0,08 ca/1.000 dân năm 2017, 0,074 ca/1.000 dân năm 2018 và chỉ còn 0,0006 ca/1.000 dân vào năm 2025.

Thành quả đó đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có chương trình phòng, chống sốt rét đạt nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, số ca mắc thấp không đồng nghĩa nguy cơ đã được loại bỏ. Sốt rét vẫn tồn tại dai dẳng tại một số vùng lưu hành và có thời điểm gia tăng cục bộ, đặt ra yêu cầu vừa tiến tới loại trừ bệnh, vừa ngăn nguy cơ quay trở lại.

Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên cho rằng, trong bối cảnh ngành Y tế chuyển mạnh từ tư duy tập trung khám, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh, nhiệm vụ của hệ thống y tế dự phòng không giảm đi cùng số ca mắc mà ngày càng mở rộng.

Điều quan trọng không chỉ là xử lý người đã mắc bệnh, mà phải phát hiện sớm nguồn nguy cơ để triển khai biện pháp phòng, chống trước lúc dịch bệnh lan rộng. Số ca bệnh giảm cũng giúp tiết kiệm nguồn lực điều trị, tạo điều kiện dành thêm nguồn lực cho nghiên cứu, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, thuốc và những phương pháp điều trị mới.

Sức ép đối với y tế dự phòng hiện nay không chỉ đến từ những bệnh truyền nhiễm quen thuộc. Biến đổi khí hậu, tốc độ đô thị hóa, giao lưu quốc tế và biến động dân cư đang tạo ra những điều kiện mới cho sự lưu hành và lan truyền của tác nhân gây bệnh.

Theo Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên, các yếu tố này có thể làm thay đổi sự phân bố của bệnh truyền nhiễm, đồng thời tạo điều kiện cho tác nhân gây bệnh mới hoặc các bệnh truyền từ động vật sang người xuất hiện.

Sự gia tăng giao lưu giữa các quốc gia càng làm cho khoảng cách địa lý không còn là hàng rào đủ lớn đối với dịch bệnh. Di chuyển bằng đường hàng không có thể đưa một tác nhân gây bệnh từ quốc gia này sang quốc gia khác trong thời gian rất ngắn. Một ổ dịch xuất hiện ở bên ngoài biên giới vì vậy có thể nhanh chóng trở thành nguy cơ đối với y tế trong nước.

Đây cũng là lý do thành quả kiểm soát sốt rét và các bệnh ký sinh trùng không làm giảm vai trò của y tế dự phòng. Ngược lại, hệ thống giám sát phải đủ nhạy để phát hiện sớm những tín hiệu bất thường, xác định tác nhân, đánh giá nguy cơ và tổ chức đáp ứng trước lúc số ca mắc tăng nhanh.

“Thành quả càng lớn thì trách nhiệm càng nặng nề”, Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên nhấn mạnh, đồng thời cho rằng mục tiêu không dừng ở loại trừ sốt rét mà còn phải bảo vệ thành quả đã đạt được, xây dựng đủ năng lực để ngăn bệnh quay trở lại.

Hành trình kiểm soát sốt rét cho thấy vai trò đặc biệt của mạng lưới y tế dự phòng tại cơ sở. TS.Giang Hán Minh, Viện trưởng Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TP.HCM cho biết, trong hơn nửa thế kỷ, cán bộ của Viện đã hoạt động từ các địa bàn vùng sâu, vùng xa đến biên giới, hải đảo. Việc bám địa bàn, điều tra dịch tễ, phát hiện ca bệnh và triển khai các biện pháp phòng, chống đã góp phần kéo giảm số người mắc và tử vong do sốt rét, đồng thời từng bước kiểm soát nhiều bệnh ký sinh trùng và bệnh do côn trùng truyền.

Kinh nghiệm ấy đang đứng trước yêu cầu phải được nâng lên một bước mới. Nếu trước đây nhiệm vụ lớn là kiểm soát những căn bệnh đã xác định rõ vùng lưu hành và đường truyền, hệ thống y tế dự phòng hiện phải chuẩn bị khả năng nhận diện cả những nguy cơ chưa quen thuộc, có thể xuất hiện nhanh và vượt qua ranh giới địa lý.

Điều đó đòi hỏi đầu tư đồng thời cho con người, khoa học, công nghệ và hệ thống xét nghiệm. Năng lực giám sát dịch tễ cần đi cùng khả năng xét nghiệm xác định tác nhân, nghiên cứu biến đổi của véc-tơ truyền bệnh và dự báo nguy cơ để rút ngắn thời gian từ phát hiện tín hiệu bất thường đến tổ chức can thiệp.

Kiểm soát nguy cơ lây bệnh từ những bề mặt quen thuộc

Tay nắm cửa, công tắc điện, bàn phím, nút bấm thang máy hay đồ chơi trẻ em đều là những bề mặt được tiếp xúc thường xuyên. Vệ sinh đúng cách, khử khuẩn có trọng tâm và giữ không gian thông thoáng là những biện pháp đơn giản giúp giảm nguy cơ lây truyền bệnh trong cộng đồng.

Phòng chống bệnh truyền nhiễm không chỉ bắt đầu lúc xuất hiện ổ dịch. Trong sinh hoạt hằng ngày, những bề mặt được nhiều người liên tục chạm vào có thể trở thành một mắt xích trong quá trình lan truyền một số tác nhân gây bệnh nếu không được vệ sinh phù hợp.

Thực hiện Kế hoạch Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2026 của Bộ Y tế và định hướng tăng cường y tế dự phòng, trọng tâm phòng dịch đang được đặt vào việc chủ động kiểm soát các yếu tố nguy cơ. Vệ sinh môi trường sống và khử khuẩn bề mặt vì vậy là một phần trong những biện pháp phòng bệnh tại gia đình và cộng đồng.

Điều quan trọng là vệ sinh và khử khuẩn phải đúng cách. Sử dụng nhiều hóa chất hoặc khử khuẩn liên tục không đồng nghĩa với khả năng phòng bệnh tốt hơn, trong lúc dùng sai còn có thể gây kích ứng da, mắt hoặc nguy cơ ngộ độc.

Bước đầu tiên là làm sạch cơ học. Bụi bẩn, chất hữu cơ và dầu mỡ bám trên bề mặt có thể làm giảm tác dụng của hóa chất khử khuẩn. Vì vậy, trước lúc sử dụng chất sát khuẩn, bề mặt cần được lau sạch bằng khăn thấm nước ấm kết hợp xà phòng hoặc chất tẩy rửa gia dụng thông thường, theo nguyên tắc từ khu vực sạch tới khu vực bẩn, từ trên xuống dưới và từ trong ra ngoài.

Sau làm sạch mới đến khử khuẩn hóa học. Theo hướng dẫn trong tài liệu, cồn y tế 70 độ phù hợp với những bề mặt nhỏ, thiết bị điện tử và đồ dùng cá nhân. Với dung dịch chứa Clo hoạt tính như Cloramin B hoặc nước Javel, bề mặt được lau bằng dung dịch khử khuẩn và cần duy trì thời gian tiếp xúc phù hợp để hóa chất phát huy tác dụng.

Một bước thường dễ bị bỏ qua là thông khí và làm khô không gian sống. Không gian kín, ẩm tạo điều kiện cho vi sinh vật tích tụ. Cửa sổ, cửa chính nên được mở để tăng trao đổi không khí tự nhiên; trong quá trình vệ sinh cần tắt điều hòa và tăng lưu thông khí tươi. Tài liệu khuyến nghị thông khí tự nhiên khoảng 30 - 60 phút mỗi ngày.

Không phải mọi vị trí trong nhà đều cần được xử lý với tần suất giống nhau. Những bề mặt tiếp xúc nhiều như tay nắm cửa, công tắc điện, bàn phím, điều khiển, tay vịn cầu thang, nút bấm thang máy và vòi nước được xếp vào nhóm cần chú ý, với tần suất vệ sinh được khuyến nghị 1 - 2 lần mỗi ngày.

Sàn nhà, bàn ghế phòng khách, bàn ăn, khu vực bếp và nhà vệ sinh có thể vệ sinh hằng ngày. Đồ chơi nhựa, bàn học và dụng cụ học tập của trẻ được khuyến nghị làm sạch 2 - 3 lần mỗi tuần, tăng lên hằng ngày nếu có dịch. Sau sử dụng dung dịch vệ sinh phù hợp, đồ dùng cần được rửa lại bằng nước sạch và phơi khô.

Phòng bệnh cũng cần được mở rộng ra khu vực quanh nhà. Khay nước thải tủ lạnh, chậu cây, phế thải có khả năng đọng nước và bể chứa nước sinh hoạt cần được kiểm tra thường xuyên. Thu gom rác, lật úp những vật dụng có thể chứa nước và xử lý các điểm nước đọng là những biện pháp góp phần loại bỏ môi trường sinh sản của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết.

Để các biện pháp này trở thành thói quen thay vì chỉ được thực hiện trong những đợt dịch, tài liệu đề xuất chuyển quy trình vệ sinh ba bước thành infographic, video ngắn và bảng kiểm hằng ngày để người dân dễ áp dụng. Trạm y tế xã, phường có thể phối hợp với các tổ chức tại cộng đồng tập huấn kỹ năng vệ sinh, đồng thời hướng dẫn cách sử dụng và pha hóa chất an toàn.

Y tế cơ sở cũng được xác định giữ vai trò giám sát và hướng dẫn cộng đồng, từ thu gom rác, xử lý nước đọng đến giữ vệ sinh môi trường xung quanh. Việc hướng dẫn sử dụng hóa chất đúng kỹ thuật đặc biệt cần thiết để phòng tránh ngộ độc và tổn thương da, mắt trong quá trình khử khuẩn.

Biến thách thức già hóa dân số thành động lực tăng trưởng mới
Tăng trưởng GDP 2 con số không chỉ dựa vào vốn, đầu tư công, xuất khẩu, khoa học - công nghệ, thể chế..., mà cần khai thác tối đa “kinh tế...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư