Báo Đầu Tư
Thứ Hai, Ngày 02 tháng 11 năm 2026,
Chuyên gia địa chất đề xuất không san phẳng Núi Một vì có nhiều rủi ro
Nguyễn Toàn - 02/11/2026 16:44
  Print
Viện Địa công nghệ và Môi trường thuộc Tổng Hội địa chất Việt Nam kiến nghị giữ lại Núi Một, di dời các hộ dân có chọn lọc, cải tạo cảnh quan thành công viên và tiện ích công cộng.
Năm 2025, sau bão số 13 và đợt mưa lũ kéo dài, taluy núi Một sạt lở nghiêm trọng trên chiều dài khoảng 200 m, làm 5 căn nhà sập hoàn toàn, nhiều nhà khác hư hỏng.
Năm 2025, sau bão số 13 và đợt mưa lũ kéo dài, taluy núi Một sạt lở nghiêm trọng trên chiều dài khoảng 200 m, làm 5 căn nhà sập hoàn toàn, nhiều nhà khác hư hỏng.

Tỉnh Gia Lai vừa nhận được công văn của Viện Địa công nghệ và Môi trường thuộc Tổng Hội địa chất Việt Nam về góp ý giải pháp phòng tránh sạt lở và định hướng sử dụng Núi Một, phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai.

Nội dung công văn do Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đỗ Đình Toát, Viện trưởng Viện Địa công nghệ và Môi trường ký ngày 23/10/2026 đề cập, qua các phương tiện thông tin đại chúng, Viện Địa công nghệ và Môi trường được biết hiện tượng sạt lở khu vực Núi Một, phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai đã và đang ảnh hưởng đến sự an toàn của nhiều chục hộ dân ở đây.

Trong bối cảnh đang là cao điểm mùa mưa bão hàng năm, trên cơ sở các kết quả khảo sát đánh giá nguy cơ sạt lở các năm 2022-2023 của Viện Địa công nghệ và Môi trường trong phạm vi thực hiện đề tài cấp tỉnh “Ứng dụng công nghệ GIS, viễn thám và địa kỹ thuật để khoanh vùng và cảnh báo tình trạng trượt lở đất, đá tại các khu vực trọng điểm trên địa bàn tỉnh Bình Định” và một số năm liên tục theo dõi, cảnh báo sạt lở tại hơn 130 vị trí trọng điểm trên địa bàn phía Đông tỉnh Gia Lai.

Viện trưởng Viện Địa công nghệ và Môi trường phân tích ưu và nhược điểm đối với 3 định hướng sử dụng Núi Một.

Theo đó, đối với đề xuất giữ nguyên Núi Một để bảo tồn môi trường. Viện Địa công nghệ và Môi trường đồng ý giữ địa hình núi, nhưng không chấp nhận giữ nguyên hiện trạng theo nghĩa không can thiệp. Bởi nếu không xử lý, rủi ro vẫn còn và có xu hướng tăng do mưa cực đoan và việc tiếp tục lấn, cắt chân núi.

Giá trị của giữ núi là có 4,82 ha mảng xanh giữa khu đô thị đông đúc, có tác dụng điều hòa vi khí hậu; đồng thời là điểm ngắm cảnh ở cao độ 40 m; góp phần giữ bản sắc Quy Nhơn là đô thị “giữa núi và biển”.

Đối với phương án khả năng di dân, cải tạo môi trường, đơn vị này đề xuất di dời các hộ thuộc vùng đỏ (nhà áp sát mái cắt, nằm trong phạm vi trượt và phạm vi đất trượt lan tới) về khu tái định cư gần đó, để người dân giữ được sinh kế.  Các hộ vùng cam (ngoài phạm vi ảnh hưởng, nhưng vẫn ở trên hoặc bên rìa mái dốc) được ở lại có điều kiện, phía sau công trình bảo vệ.

Dải đất chân núi sau di dời trở thành hành lang an toàn với bề rộng theo tính toán sơ bộ không nhỏ hơn 1-1,5 lần chiều cao mái dốc cục bộ phía trên (phía trên bố trí rãnh chân, tường chắn thấp, đường dạo kiêm đường cứu hộ và cây xanh cách ly).

Đồng thời, sườn và đỉnh được cải tạo thành công viên rừng đô thị có đường mòn, chòi ngắm cảnh; hạn chế tối đa bê tông hóa sườn.

Đơn vị này cho rằng, phương án di dân này có ưu điểm then chốt khi có khoảng lùi, có thể dùng giải pháp “mềm” (bạt mái thoạt nước, phủ xanh). Các giải pháp này rẻ hơn, bền hơn và đẹp hơn nhiều so với kết cấu cùng thi công trong mặt bằng chật hẹp sát nhà dân.

Tuy nhiên phương án di dân có khó khăn trong chi phí bồi thường, quỹ đất tái định cư, sự đồng thuận của người dân và thời gian triển khai.

Trong khi đó, phương án còn lại là san bằng tạo quỹ đất xây dựng đô thị tuy có ưu điểm như loại bỏ hoàn toàn nguồn nguy cơ sau khi hoàn thành; tạo quỹ đất ở vị trí trung tâm; có vật liệu san lấp cho các dự án khác. Tuy nhiên, Viện Địa công nghệ và Môi trường không khuyến nghị thực hiện.

Lý do là có nhiều nhược điểm và rủi ro như rủi ro tăng ngay trong lúc thi công; làm mất vĩnh viễn 4,82 ha cây xanh và cảnh quan, không thể khôi phục, bê tông hóa làm tăng dòng chảy mặt đổ về vùng thấp; thủ tục phức tạp như điều chỉnh quy hoạch, đánh giá tác động môi trương…

Cùng với đó quá trình thi công đối với phần đá gốc ít phong hóa, nhất là lớp quarzit, phải phá bằng búa hoặc nổ mìn. Nổ mìn trong khu dân cư bị hạn chế nghiêm ngặt; dùng búa phá thì chậm và tốn kém; bụi, ồn, rung kéo dài 3-5 năm; xe tải nặng làm hỏng đường đô thị…

Trên cơ sở đánh giá ưu, nhược điểm của 3 phương án, Viện Địa công nghệ và Môi trường kiến nghị Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Môi trường, UBND phường Quy Nhơn định hướng chon phương án giữ núi, di dời có chọn lọc, cải tạo thành công viên (phương án 2). Phương án này sẽ triển khai trong 3 giai đoạn.

Theo đó, ngay trong mùa mưa năm 2026 thực hiện các biện pháp khẩn cấp bao gồm kiểm tra hiện trường, đánh dấu vết nứt và điểm đã trượt; lập danh sách các hộ nguy cơ cao.

Lập phương án sơ tán chủ động khi có cảnh báo mưa lớn hoặc sạt lở; phủ bạt lên vết nứt và mái đang trượt; khơi thông rãnh, dẫn nước mặt ra khỏi mái dốc; không để nước thải sinh hoạt chảy lên sườn.

Đồng thời, địa phương cần cấm cắt mái, đào đất, xây mới và đổ thải trên đỉnh, trên sườn; cắm biển cảnh báo…

Trong ngắn hạn cần khảo sát, phân vùng nguy cơ và thiết kế; xử lý cấp bách các điểm xung yếu (thoát nước, gia cố cục bộ); lắp đặt quan trắc. Trong trung hạn, tỉnh cần di dời các hộ vùng đỏ, xây dựng công trình bền vững và hình thành công viên.

“Đưa Núi Một vào quy hoạch phân khu với chức năng đất cây xanh công cộng; khoanh vùng cấm xây dựng mới trong hành lang an toàn chân núi.

Không khuyến nghị san bằng toàn bộ. Nếu vẫn cân nhắc, cần lập báo cáo so sánh dầy đủ về kinh tế, kỹ thuật, môi trường và xã hội, có lấy ý kiến cộng đồng. Chỉ nên chọn khi quy hoạch thực sự cần quỹ đất này và không có vị trí thay thế” Viện Địa công nghệ và Môi trường đề cập trong công văn.

Theo báo cáo của UBND phường Quy Nhơn, khu vực núi Một (thuộc tổ dân phố 19 và 20) có khoảng 228 hộ sinh sống trên núi, sườn núi và dưới chân núi. Trong số này, khoảng 100 hộ sử dụng đất trước ngày 15/10/1993, gồm 50 hộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 50 hộ chưa được cấp.
128 hộ còn lại thuộc diện lấn chiếm đất núi, trong đó, 117 hộ lấn chiếm trước ngày 1/7/2014 và 11 hộ lấn chiếm sau thời điểm này.
Qua đánh giá hiện trạng, phường xác định 52/228 hộ có nhà nằm trong khu vực nguy cơ cao xảy ra sạt lở đất. Cụ thể, 22 hộ ở trên núi thuộc tổ dân phố 19, gồm 11 hộ ở phía taluy dương và 11 hộ ở phía taluy âm; 30 hộ còn lại ở dưới chân núi thuộc tổ dân phố 20.

Theo báo cáo của UBND phường Quy Nhơn, khu vực núi Một (thuộc tổ dân phố 19 và 20) có khoảng 228 hộ sinh sống trên núi, sườn núi và dưới chân núi. Trong số này, khoảng 100 hộ sử dụng đất trước ngày 15/10/1993, gồm 50 hộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 50 hộ chưa được cấp.  

128 hộ còn lại thuộc diện lấn chiếm đất núi, trong đó, 117 hộ lấn chiếm trước ngày 1/7/2014 và 11 hộ lấn chiếm sau thời điểm này. 

Qua đánh giá hiện trạng, phường xác định 52/228 hộ có nhà nằm trong khu vực nguy cơ cao xảy ra sạt lở đất. Cụ thể, 22 hộ ở trên núi thuộc tổ dân phố 19, gồm 11 hộ ở phía taluy dương và 11 hộ ở phía taluy âm; 30 hộ còn lại ở dưới chân núi thuộc tổ dân phố 20.

Chủ động ứng phó mưa lũ, bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của người dân
Chủ động ứng phó mưa lũ, bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của người dân
Công điện số 66/CĐ-TTg ngày 21/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc chủ động ứng phó, khắc phục hậu quả mưa lũ.
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư