Thứ Sáu, Ngày 06 tháng 03 năm 2026,
Dấu ấn 40 năm Đổi mới luôn gắn với thời khắc khó đến tận cùng, nhưng điều thần kỳ đã xuất hiện
Khánh An - 06/03/2026 08:45
 
Với TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, những dấu mốc đáng nhớ trong hành trình 40 năm Đổi mới gắn liền với những thời khắc khó khăn đến tận cùng, nhưng cũng là lúc, những bài học thành công thần kỳ xuất hiện.
TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

CÓ NHỮNG LÚC THỂ CHẾ BẾ TẮC, NHƯNG TƯ DUY LÃNH ĐẠO THÌ KHÔNG

“Bế tắc” là từ mà TS. Nguyễn Đình Cung đã chọn để nói về bối cảnh kinh tế Việt Nam 40 năm trước. Người dân thiếu ăn, thiếu mặc. Công nhân thiếu việc làm. Lạm phát cuối năm 1986 lên tới 774%, phản ánh sự mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế.

“Phải nói thẳng là khi đó, thể chế bế tắc, có những việc không biết phải xử lý thế nào. Nhưng điều quan trọng nhất là người dân và đặc biệt là các nhà lãnh đạo đất nước không chấp nhận buông xuôi”, ông Cung nhớ lại.

Nhiều năm qua, mỗi khi có dịp nhìn lại hành trình Đổi mới, ông vẫn nhắc đến bài học từ thực tiễn...

Đó là điều đầu tiên phải nhắc đến. Đổi mới ở Việt Nam xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, từ nỗ lực tìm kiếm những giải pháp phù hợp để giải quyết được những vấn đề phát triển. Điều này thể hiện rất rõ ở sự đan cài những quyết định phá rào trong khuôn khổ của cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp.

Ví như trong sự bế tắc của doanh nghiệp nhà nước, thì có những yếu tố mang hơi hướng thị trường như kế hoạch 3 phần; hay trong thiếu hụt lương thực, thực phẩm trong nông nghiệp thì có khoán 10...

Vướng mắc thì từ thực tiễn, từ dưới lên, nhưng tìm kiếm giải pháp để gỡ phụ thuộc hoàn toàn vào các nhà lãnh đạo. Khi đó, thể chế có lúc bế tắc, nhưng các nhà lãnh đạo thì không. Họ đau đáu với phát triển, trăn trở, tìm kiếm giải pháp, mà phần nhiều là ở ngoài thể chế hiện hành...

Chính sự trăn trở, sáng tạo của các nhà lãnh đạo đã thúc đẩy công cuộc Đổi mới vào năm 1986.

Đại hội VI là dấu mốc mang tính bước ngoặt về đổi mới tư duy phát triển, thừa nhận cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp là thất bại, việc duy trì cơ chế đó quá lâu dẫn tới khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng.

Nhưng các bước đi rất dè dặt, vì phải tới năm 1990 - 1992, doanh nghiệp tư nhân mới chính thức được “gọi tên”, thưa ông?

Dè dặt là từ bây giờ nhìn lại, nhưng hồi đó là bước tiến rất mạnh mẽ. Chúng ta phải nhớ là chỉ vài năm trước, tư duy còn là không chấp nhận các thành phần kinh tế khác, vậy mà đến năm 1986 đã thừa nhận hộ tiểu chủ trong sản xuất công nghiệp, cá thể trong thương mại...

Lúc đó, con đường phải đi tới chưa thực sự rõ nét, nhưng việc phải từ bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp là chắc chắn. Thậm chí, nhiều quyết sách có thể coi là… vi hiến, như Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, sau đó là Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 được ban hành khi Hiến pháp năm 1980 xác định Nhà nước giữ độc quyền ngoại thương và kinh tế đối ngoại.

Các đạo luật đó, nhất là Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân là “viên gạch” đầu tiên đặt nền móng pháp lý cho kinh tế tư nhân, nhưng quan trọng hơn, thể hiện rõ tư duy chiến lược của các nhà lãnh đạo trong lựa chọn con đường mà nền kinh tế Việt Nam phải đi, đó là chuyển đổi toàn diện kinh tế Việt Nam sang cơ chế kinh tế thị trường.

Nền kinh tế đang bước vào giai đoạn nâng cấp kinh tế thị trường, chứ không chỉ là chuyển đổi sang cơ chế thị trường.  Ảnh: Dũng Minh

CẢI CÁCH “WIN-WIN” VÀ CUỘC THOÁT ĐÁY NHỜ SỨC DÂN

Theo TS. Nguyễn Đình Cung, Đổi  mới là một cuộc cải cách win-win. Ở đó, Nhà nước dần rút khỏi những gì thị trường làm tốt hơn, người dân và doanh nghiệp được giải phóng năng lực, nguồn lực. Hơn thế, những người dân Việt Nam là nhân vật chính làm nên cuộc thoát nghèo vĩ đại trong bối cảnh kinh tế bị bao vây, cấm vận nặng nề, chiến tranh biên giới Tây Nam diễn biến phức tạp.

“Hồi đó, chúng ta đi từ đáy lên hoàn toàn bằng tự lực, tự cường, nhờ khơi dậy sức dân”, TS. Nguyễn Đình Cung nói.

Có thể nói đó là cuộc tái cơ cấu toàn diện nền kinh tế, thưa Tiến sỹ?

Một cuộc tái cơ cấu toàn diện, từ tư duy điều hành đến thực thi.

Một là, quyết định tự do hóa giá cả gắn với xóa bỏ bao cấp, trước hết là với doanh nghiệp nhà nước. Chỉ trong hai năm, khoảng 6.000 doanh nghiệp nhà nước rời thị trường vì kém hiệu quả.

Hai là, chuyển từ thúc đẩy cung sang quản lý tổng cầu, sử dụng công cụ tài khóa và tiền tệ. Khi đó, chính sách rất kỷ luật: tài khóa “thu để chi”, không bội chi; tiền tệ thực hiện lãi suất thực dương, có lúc lên tới 13%/năm.

Ba là, mở cánh cửa cho khu vực kinh tế tư nhân.

Tất nhiên, Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty vẫn tồn tại những khiếm khuyết lớn, như Luật Công ty chỉ hơn 40 điều, Luật Doanh nghiệp tư nhân hơn 20 điều, quá “mỏng” so với sự phức tạp của thị trường. Thậm chí, khái niệm “công ty” còn bị hiểu bó hẹp, bởi nhiều ý kiến nói phải đủ 10 người trở lên mới thành lập được công ty. Đáng nói hơn là các đạo luật này vẫn coi quyền kinh doanh là do Nhà nước “ban phát”, doanh nghiệp phải có kế hoạch kinh doanh, phải xin phép và chịu sự can thiệp ngặt nghèo từ cơ quan công quyền…

Nhưng lần đầu tiên, kinh tế tư nhân được luật hóa, để rồi được hiến định trong Hiến pháp 1992, cùng với cơ chế kinh tế thị trường. Nhờ vậy, cả triệu lao động đi ra từ khu vực doanh nghiệp nhà nước có không gian để sinh tồn, phát triển; tiếp sau là dòng vốn FDI chảy mạnh…

Những thay đổi lớn tác động đến không chỉ rất nhiều người, mà tới tư duy, quan điểm phát triển một thời kỳ nên không phải mọi sự đều hanh thông?

Đúng vậy, không dễ dàng quyết định những việc chưa từng làm, nhưng bằng cách nhìn thẳng vào sự thật, không né tránh thất bại, những người lãnh đạo đất nước đã dám làm để tìm hướng giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra. Hồi đó, có tình huống không ra được nghị quyết của Bộ Chính trị, nhưng thực tiễn đang cần, Ban Bí thư chọn cách ban hành quyết định, để thực tiễn có cơ sở thực thi. Nhờ vậy, tạo niềm tin trong nhân dân về sự thay đổi, về con đường cải cách phải đi.

Sau đó, thành công thần kỳ - có thể nói là ngoài mong đợi của chính các nhà lãnh đạo khi đó - như khoán 10 trong nông nghiệp, trong cải cách doanh nghiệp nhà nước… đã tạo ra tính chính danh của cải cách, thuyết phục những người chưa thực sự tin tưởng. Hàng hóa đầy thị trường. Từ đất nước có nguy cơ thiếu đói, bị bao vây, cấm vận, các nguồn viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa bị cắt do bất ổn ở Liên Xô và Đông Âu… , Việt Nam đã xuất khẩu 1,5 triệu tấn gạo vào đầu năm 1989. Đó là cơ sở để có các quyết định mạnh mẽ hơn, như tự do hóa giá cả trong lương thực, xóa bỏ tem phiếu…

Nền kinh tế Việt Nam đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng bằng sức sáng tạo vô bờ bến, ý chí vượt lên của từng người dân, bằng sự trăn trở, dám nghĩ, dám làm của các nhà lãnh đạo đất nước.

Sự thành công của cải cách trong nước đã thúc đẩy và tạo nên thành công của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế những năm sau đó. Đỉnh điểm của làn sóng cải cách thể chế là Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2005, tạo khung pháp lý thống nhất cho mọi thành phần kinh tế, mở đường để Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007, thu hút dòng FDI kỷ lục năm 2008, với tổng vốn đăng ký đạt hơn 64 tỷ USD.

Chỉ tiếc rằng, chúng ta đã lại duy trì mô hình tăng trưởng dựa vào vốn và thâm dụng lao động quá lâu. Môi trường kinh doanh không có đột phá mới; cải cách thể chế chậm lại; vẫn còn dùng dằng trong thoái vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước…

Hệ quả là, thể chế lại trở thành điểm nghẽn khi nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển nhanh.

CẢI CÁCH NÀO CŨNG LÀ LỰA CHỌN SINH - TỬ

40 năm Đổi mới của Việt Nam cho thấy một quy luật, đó là cải cách chỉ thành công khi các nhà lãnh đạo dám đối diện sự thật và hành động vì đòi hỏi từ thực tiễn. TS. Nguyễn Đình Cung khẳng định như vậy.

“Dù bối cảnh đã khác, quyết tâm chuyển đổi sang kinh tế thị trường hội nhập, hiện đại, theo quy luật quốc tế rất rõ ràng. Nhưng cải cách lần nào cũng là lựa chọn sinh - tử”, ông Cung nhấn mạnh.

Như ông đã nói, để chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước “rút chân” để thị trường tiến. Lần này thì sao, khi nền kinh tế vừa cần tốc độ cao, vừa đòi hỏi xác lập mô hình tăng trưởng mới?

Nền kinh tế đang bước vào giai đoạn nâng cấp kinh tế thị trường, chứ không chỉ là chuyển đổi sang cơ chế thị trường. Mấu chốt của giai đoạn này là hoàn thiện các thị trường nhân tố sản xuất theo hướng để thị trường quyết định phân bổ nguồn lực.

Nghĩa là, để động lực là năng suất, chất lượng, hiệu quả như mô hình tăng trưởng mà nền kinh tế đang hướng tới, thì quản lý nhà nước phải chuyển từ xin - cho sang kiến tạo, từ “không quản được thì cấm” sang thúc đẩy phát triển - đúng như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh.

Để làm được việc này, bài toán phải giải là chuyển hệ thống thể chế phát triển chưa đồng bộ, là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” thành “đột phá của độ phá”...

Cải cách lần này sẽ phức tạp hơn?

Cải cách nào cũng là lựa chọn sinh - tử, vì sẽ phải từ bỏ xin - cho, từ bỏ quyền lực. Việc này nói thì dễ, nhưng làm rất khó.

Nhưng lần này, cũng như 40 năm trước, không có sự lựa chọn nào khác là Nhà nước phải thay đổi, dứt khoát với tư duy cũ, dũng cảm đối mặt với thách thức để thị trường tiến lên.

Tôi muốn nhắc đến điều mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã nói: Thách thức cốt lõi của giai đoạn tới không phải là thiếu nguồn lực hay bất ổn bên ngoài, mà chủ yếu ở chất lượng thể chế, năng lực thực thi và sức sống của mô hình phát triển. Đây vừa là sức ép, vừa là động lực cải cách, nếu được nhận diện đúng và hành động quyết liệt.

Đến lúc nền kinh tế cần tư duy phát triển mới, chuyển từ xử lý tình huống sang cải cách căn cơ, từ điều hành ngắn hạn sang kiến tạo động lực dài hạn.

Chỉ khi đó, niềm tin thị trường mới được khơi thông, nguồn lực xã hội mới được giải phóng và nền kinh tế mới có thể bước vào một quỹ đạo phát triển nhanh hơn, bền vững hơn...

Phát triển kinh tế nhà nước qua gần 40 năm Đổi mới và đề xuất, kiến nghị - Bài 2: Nên gọi doanh nghiệp nhà nước là thành phần kinh tế công
Để không nhầm lẫn với kinh tế nhà nước, có thể gọi doanh nghiệp nhà nước là thành phần kinh tế công. Đây là thành phần kinh tế giữ vị trí,...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư