-
“Quản trị hành trình” - Từ giải quyết sự vụ đến dẫn dắt doanh nghiệp
-
Trường THPT Cao Bá Quát (Hà Nội): 65 năm khát vọng đổi mới
-
Bộ Nội vụ yêu cầu tính đúng, tính đủ nhu cầu nhân lực theo từng vị trí việc làm
-
Khắc họa Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt liệt sỹ qua điện ảnh
-
Từ 1/1/2027, học sinh, sinh viên khó khăn được vay tới 8 triệu đồng/tháng -
Khai trương Trung tâm báo chí Đại hội Thể thao toàn quốc 2026 tại TP.HCM
Bộ Tư pháp đang thẩm định dự thảo Nghị định về quản lý, sử dụng số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập. Dự thảo do Bộ Nội vụ chủ trì xây dựng, nhằm hoàn thiện cơ chế xác định, giao và điều chỉnh biên chế viên chức trong hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập.
Theo dự thảo, quá trình xác định số lượng người làm việc cần bám sát vị trí việc làm, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng đơn vị. Đồng thời, số lượng nhân sự phải phù hợp với định mức biên chế theo hướng dẫn của bộ quản lý ngành, lĩnh vực.
Dự thảo đặt ra nguyên tắc gắn số lượng người làm việc với mức độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập. Theo đó, tỷ lệ người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trên tổng số người làm việc của đơn vị không được thấp hơn tỷ lệ mức độ tự chủ tài chính của đơn vị đó, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.
![]() |
|
Đơn vị có mức tự chủ tài chính cao hơn sẽ phải chủ động hơn trong bảo đảm nguồn trả lương từ hoạt động sự nghiệp, giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. |
Dự thảo nghị định cũng xác định 3 nhóm căn cứ để tính toán số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập.
Nhóm căn cứ đầu tiên là vị trí việc làm và khối lượng công việc thực tế tại từng vị trí. Mỗi đơn vị phải rà soát nhiệm vụ được giao, phạm vi hoạt động, yêu cầu chuyên môn, khối lượng xử lý thường xuyên để xác định nhu cầu nhân sự phù hợp. Số lượng người làm việc vì vậy không thể tách rời chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị.
Nhóm căn cứ thứ hai liên quan đến đổi mới phương thức vận hành. Dự thảo yêu cầu tính đến cải tiến quy trình, thay đổi cách thức hoạt động, quy chế làm việc, mức độ hiện đại hóa công sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số.
Khi quy trình chuyên môn được số hóa, thủ tục được rút gọn, công nghệ được ứng dụng sâu hơn, nhu cầu nhân lực ở một số vị trí có thể thay đổi. Ngược lại, những lĩnh vực phục vụ trực tiếp người dân, cần chuyên môn sâu hoặc có khối lượng lớn vẫn phải được bảo đảm đủ nhân lực.
Nhóm căn cứ thứ ba là thực tế quản lý, sử dụng số lượng người làm việc đã được giao. Nội dung này bao gồm tình hình sử dụng biên chế tại đơn vị; khả năng ký hợp đồng lao động hoặc hợp đồng dịch vụ để thực hiện một số công việc của vị trí việc làm viên chức theo Điều 21 Luật Viên chức; cùng mức độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.
Với các căn cứ trên, Bộ Nội vụ hướng tới cơ chế xác định biên chế sát nhu cầu thực tế hơn, hạn chế tình trạng giao số lượng người làm việc theo lối bình quân, thiếu căn cứ về khối lượng nhiệm vụ hoặc chưa phản ánh đúng khả năng tài chính của đơn vị.
Dự thảo cũng quy định hồ sơ kế hoạch số lượng người làm việc theo chu kỳ 5 năm và hằng năm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của bộ, ngành, địa phương.
Hồ sơ gồm văn bản đề nghị; kế hoạch số lượng người làm việc của các đơn vị thuộc phạm vi quản lý; bản sao văn bản của cơ quan có thẩm quyền giao hoặc phê duyệt số lượng người làm việc theo giai đoạn 5 năm, hằng năm liền kề với kỳ kế hoạch; cùng các tài liệu làm căn cứ xác định nhu cầu nhân sự.
Quy định về kế hoạch 5 năm giúp cơ quan quản lý có cơ sở dự báo nhu cầu nhân lực trung hạn, gắn với định hướng phát triển ngành, lĩnh vực, khả năng tài chính và lộ trình tự chủ của đơn vị. Kế hoạch hằng năm là căn cứ để điều chỉnh linh hoạt theo biến động nhiệm vụ, mô hình tổ chức và nguồn lực thực tế.
Bên cạnh nguyên tắc xác định số lượng người làm việc, dự thảo nghị định cũng quy định căn cứ, hồ sơ, trình tự và thẩm quyền điều chỉnh biên chế viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và đơn vị do ngân sách bảo đảm chi thường xuyên.
Các trường hợp điều chỉnh gồm chuyển biên chế viên chức giữa các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc bộ, địa phương; điều chỉnh giữa các bộ, giữa các địa phương; điều chuyển biên chế viên chức giữa các khối trong tổng biên chế được Bộ Chính trị giao; và điều chỉnh trong trường hợp làm tăng tổng biên chế của hệ thống chính trị đã được Bộ Chính trị giao.
Việc quy định rõ các trường hợp này nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho quá trình phân bổ, điều chuyển và quản lý biên chế viên chức. Qua đó, các bộ, ngành, địa phương có căn cứ xử lý khi phát sinh thay đổi về tổ chức bộ máy, nhiệm vụ chuyên môn, mức tự chủ hoặc nhu cầu cung ứng dịch vụ công.
-
Khắc họa Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt liệt sỹ qua điện ảnh -
Từ 1/1/2027, học sinh, sinh viên khó khăn được vay tới 8 triệu đồng/tháng -
Khai trương Trung tâm báo chí Đại hội Thể thao toàn quốc 2026 tại TP.HCM -
Kiến tạo động lực tăng trưởng từ đầu tư cho giáo dục đại học -
Hà Nội tổ chức chuỗi sự kiện hấp dẫn chào mừng Ngày Văn hóa Việt Nam -
Quảng Trị đầu tư 460 tỷ đồng nâng cấp hệ thống cấp nước nông thôn -
Tích hợp nhiệm vụ có nội dung tương đồng trong Đề án, Chiến lược phát triển nhân lực
-
Công bố Top 10 Doanh nghiệp tạo giá trị hàng đầu Việt Nam 2026 ngành Logistics
-
Công bố Top 10 Doanh nghiệp tạo giá trị hàng đầu Việt Nam 2026 ngành Chứng khoán
-
GC Food đính chính thông tin báo cáo tài chính (kỳ 2)
-
Stavian Hóa chất 2 năm liên tiếp có mặt trong Bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á
-
Vinafeed Group lần thứ hai được vinh danh Doanh nghiệp xuất sắc châu Á tại APEA 2026
-
Dacinco tài trợ 50 tỷ đồng xây mới Trường Tiểu học Ngô Sĩ Liên tại Đà Nẵng
