-
Hải quan khu vực VI: Vinh danh doanh nghiệp tiêu biểu, lan tỏa giá trị đồng hành -
VinUni tăng tốc thu hút nhân tài - Chuyển dịch lên mô hình đại học nghiên cứu -
Cuộc đua song mã ngành bưu chính bứt tốc -
VinFast hợp tác với 30 trường đại học, cao đẳng - Chuẩn hóa chương trình và chất lượng đào tạo kỹ sư ô tô điện -
Những lưu ý về tính doanh thu, xuất hóa đơn và nghĩa vụ thuế khi bán hàng online
![]() |
| Hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp nhà nước sẽ gia tăng khi các nền tảng vật chất, nguồn lực và công cụ mà Nhà nước nắm giữ, quản lý và sử dụng để điều tiết nền kinh tế được phản ánh rõ ràng, vai trò của Nhà nước được thể hiện nổi bật. Ảnh: Đức Thanh. Đồ họa: Đan Nguyên |
Sức mạnh của kinh tế nhà nước
“Lần đầu tiên, nội hàm, cấu trúc của kinh tế nhà nước được định hình. Hóa ra chúng ta chưa bao giờ có một định nghĩa thực sự rõ ràng về khu vực này”. PGS-TS. Trần Đình Thiên, Ủy viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, nhấn mạnh điều này ngay sau khi Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước được ban hành.
Nhìn lại, qua từng thời kỳ phát triển, kinh tế nhà nước luôn được khẳng định giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, nhưng phải tới Nghị quyết 79-NQ/TW, câu hỏi khu vực này gồm những thành tố gì mới được trả lời rõ. Nhưng mối quan tâm của ông Trần Đình Thiên không chỉ ở việc rõ khái niệm theo ý nghĩa lý luận.
“Việc xác định thật rõ nội hàm, chức năng, cơ chế vận hành của các bộ phận cấu thành kinh tế nhà nước mở ra cơ hội xử lý quan hệ giữa khu vực kinh tế nhà nước với khu vực doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân đúng nguyên tắc thị trường. Đây là điểm cực kỳ quan trọng mà trước đây thường gây tranh cãi do thiếu sự phân biệt rõ ràng”, TS. Thiên phân tích.
Khi các nền tảng vật chất, nguồn lực và công cụ mà Nhà nước nắm giữ, quản lý và sử dụng để điều tiết nền kinh tế được phản ánh rõ ràng, vai trò của Nhà nước được thể hiện nổi bật, không chỉ thông qua hoạt động kinh doanh, mà còn thông qua quản lý, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực then chốt như đất đai, tài nguyên, ngân sách, hạ tầng, dự trữ quốc gia, tín dụng…
![]() |
| Với quyết sách mới của Bộ Chính trị, doanh nghiệp nhà nước sẽ phát huy tốt nhất vai trò dẫn dắt tăng trưởng |
Hơn thế, cơ sở cho việc xây dựng, phân định và hoàn thiện thể chế, chính sách đối với các chủ thể và nguồn lực của kinh tế nhà nước cũng trở nên tường minh, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể kinh tế nhà nước cũng như hiệu quả huy động và sử dụng nguồn lực nhà nước vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu cho phát triển kinh tế - xã hội.
Có thể thấy rõ điều này trong nội dung về một số nhiệm vụ, giải pháp mang tính đột phá để nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể kinh tế nhà nước và hiệu quả quản lý, khai thác, huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực của khu vực này tại Nghị quyết 79-NQ/TW. Ví dụ như mở rộng chức năng tham gia điều tiết thị trường của dự trữ quốc gia; không hình thành mới quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, trừ các trường hợp cấp bách, cấp thiết theo yêu cầu của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng; thiết lập cơ sở hình thành Quỹ đầu tư quốc gia; xây dựng cơ chế, chính sách chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập trong những ngành, lĩnh vực phù hợp thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ...
![]() |
Chân dung mới của “sếu đầu đàn”
Trong các nhóm nhiệm vụ, giải pháp được đề cập tại Nghị quyết 79-NQ/TW, TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương - cơ quan từng chắp bút các nghị quyết, văn bản pháp luật về doanh nghiệp nhà nước, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước cho rằng: “Có rất nhiều điểm mới, nhiều kỳ vọng rất lớn có thể tạo nên những thay đổi lớn trong khu vực doanh nghiệp nhà nước. Chúng ta sẽ có những doanh nghiệp nhà nước thuộc nhóm lớn nhất Đông Nam Á, rồi có những doanh nghiệp thuộc nhóm lớn nhất thế giới… nhưng không làm tổn hại, thậm chí là thúc đẩy sự lớn lên của doanh nghiệp tư nhân”.
Theo TS. Nguyễn Đình Cung, chân dung doanh nghiệp nhà nước thời Nghị quyết 79 rất rõ ràng. Đó là những doanh nghiệp có quy mô lớn gấp nhiều lần so với hiện nay, tập trung vào các ngành nghề hạ tầng cơ bản và các ngành chiến lược đại diện cho xu thế phát triển khoa học công nghệ, cách mạng công nghiệp 4.0. Các doanh nghiệp này hoạt động với một hệ thống KPI rõ ràng, bao gồm doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, mức độ quốc tế hóa trong hoạt động của doanh nghiệp; chi tiêu cho nghiên cứu phát triển; kết quả nắm bắt công nghệ, cải tiến, phát minh và làm chủ công nghệ lõi trong ngành mà doanh nghiệp hoạt động, xây dựng, dẫn dắt và làm chủ chuỗi cung ứng…
Thậm chí, các tiêu chí doanh nghiệp dẫn dắt phải rõ mức mỗi năm sẽ ra bao nhiêu sản phẩm mới, thị phần, tỷ trọng xuất khẩu thế nào để thể hiện năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới, chứ không phải là cạnh tranh ở thị trường nội địa, với doanh nghiệp trong nước.
Tuy nhiên, tất cả những điều này - vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, hệ thống KPI theo chuẩn mực quốc tế… không đương nhiên mà có, ngay cả khi nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã thực sự là những “người khổng lồ”, nhưng lại trong nghịch lý là “bị trói chân”.
Phải nhắc lại, năm 2017, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước với rất nhiều nhiệm vụ, giải pháp. Nhưng sau 8 năm triển khai, kết quả đạt được vẫn chưa được như kỳ vọng.
Nhiều mục tiêu quan trọng của Nghị quyết vẫn chưa đạt yêu cầu, nổi bật là tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn chậm; xử lý các dự án đầu tư và doanh nghiệp nhà nước yếu kém còn lúng túng. Việc huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực chưa hiệu quả…
Đáng chú ý, yêu cầu phát huy vai trò mở đường, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước trong hình thành và mở rộng các chuỗi sản xuất, cung ứng và chuỗi giá trị trong nước, khu vực và toàn cầu - một nội dung quan trọng của Nghị quyết 12-NQ/TW, chưa được hiện thực hóa rõ ràng, đặc biệt tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.
Nguyên nhân, theo ông Cung, có cả lý do khách quan và chủ quan, nhưng chủ quan là chính. Trước hết là hệ thống tư duy về khu vực này còn nặng dấu ấn của cơ chế hành chính quan liêu.
“Cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước lâu nay thể hiện nặng tư duy thiên về quản lý và kiểm soát, do đó công cụ quản lý phổ biến là hành chính xin - cho. Nhiều khi doanh nghiệp nhà nước hoạt động không hiệu quả vì bị mất không gian, mất cơ hội vì xin - cho”, ông Cung thẳng thắn.
Hệ quả của tư duy trên là doanh nghiệp nhà nước chưa phải là một doanh nghiệp bình thường trong nền kinh tế thị trường khi không được giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư; rất khó tuyển dụng đội ngũ quản lý giỏi, không dễ đổi mới, sáng tạo. Định hướng, mục tiêu phát triển của các doanh nghiệp này thường rất nhiều, nhưng rất khó phân định, thường vừa bao gồm mục tiêu kinh doanh (có lãi, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước) vừa bao gồm các mục tiêu xã hội - chính trị (ổn định cung cầu, bình ổn giá cả, tạo việc làm, thực hiện nhiệm vụ công ích)…
![]() |
Bài toán thực thi
Ngay khi Nghị quyết 79-NQ/TW được ban hành, giới chuyên gia kinh tế coi hệ thống nhiều giải pháp, nhiệm vụ được đặt ra trong Nghị quyết 79 có ý nghĩa là “cởi trói” cho doanh nghiệp nhà nước.
Có thể kể tới quyết định cho phép sử dụng toàn bộ nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước để tăng vốn điều lệ cho doanh nghiệp nhà nước, thay vì nộp về ngân sách như trước; cho phép hạch toán tách bạch giữa nhiệm vụ chính trị - xã hội và nhiệm vụ kinh doanh thương mại; đối với dự án trọng điểm quốc gia, dự án đầu tư ở nước ngoài mà Nhà nước giao ngoài kế hoạch của doanh nghiệp thì Nhà nước có chính sách bảo đảm đủ vốn, hỗ trợ lãi suất và cung cấp đủ tín dụng… Đặc biệt là tư duy chấp nhận nguyên tắc “lợi ích tổng thể”, cho phép rủi ro trong đầu tư đổi mới, sáng tạo… Tuy vậy, thực thi thế nào đang là câu hỏi lớn.
Chia sẻ quan điểm này, TS. Nguyễn Minh Thảo, Phó trưởng ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh (Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính) cho rằng, trách nhiệm thực thi là vô cùng lớn. Lý do là tư duy mới của Nghị quyết sẽ tác động rất rộng tới hệ thống văn bản, chính sách hiện hành.
“Sẽ cần phải làm rõ được nội hàm của từng nhiệm vụ, giải pháp để làm cơ sở rà soát lại toàn bộ hệ thống pháp luật, từ đó nhận diện các bất cập và có kế hoạch sửa đổi. Ví dụ như đánh giá lợi ích và chi phí về mặt xã hội theo thông lệ quốc tế thế nào để chọn các ngành, lĩnh vực nhà nước sẽ đầu tư, tham gia; hay tiêu chí tăng vốn cho doanh nghiệp như thế nào, sáp nhập các doanh nghiệp cùng ngành nghề ra sao, áp dụng thí điểm thuê tổng giám đốc ở những doanh nghiệp nào... Những việc này, theo tôi, cần phải làm ngay”, bà Thảo đề xuất.
Như vậy, đến thời điểm này có thể khẳng định “chân dung mới” của khu vực doanh nghiệp nhà nước đã rất rõ, nhưng tính khả thi vẫn đang phụ thuộc rất lớn vào năng lực và kỷ luật thực thi một cách có hệ thống và khớp nối với tư duy kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại, hành động quyết liệt của Nghị quyết 79-NQ/TW.
- Đại hội VI (1986): Khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh, đồng thời khởi động xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, mở đường cho đổi mới.
- Đại hội VII (1991): Yêu cầu doanh nghiệp nhà nước phát triển hiệu quả, nắm giữ ngành, lĩnh vực then chốt; bắt đầu sắp xếp lại khu vực quốc doanh.
- Đại hội VIII (1996): Chuyển sang khái niệm kinh tế nhà nước, nhấn mạnh nhiệm vụ đổi mới, tổ chức lại và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.
- Đại hội IX (2001): Xác định kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế.
Tháng 9/2001 – Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX: Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt, nòng cốt và chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đại hội X (2006): Đặt vấn đề xóa bỏ độc quyền, đặc quyền; doanh nghiệp nhà nước tập trung vào hạ tầng, tư liệu sản xuất, dịch vụ thiết yếu, công ích; đẩy mạnh cổ phần hóa, hình thành các tập đoàn kinh tế nhà nước.
- Đại hội XI (2011): Tái khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước với phạm vi rộng, bao gồm doanh nghiệp nhà nước và các nguồn lực thuộc sở hữu toàn dân.
- Đại hội XII (2016): Làm rõ mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN; kinh tế tư nhân là động lực quan trọng, doanh nghiệp nhà nước tập trung vào ngành then chốt, địa bàn trọng yếu, quốc phòng – an ninh.
- Đại hội XIII (2021): Kinh tế nhà nước là công cụ và lực lượng vật chất quan trọng để ổn định vĩ mô, điều tiết và dẫn dắt phát triển; doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo cơ chế thị trường, quản trị hiện đại, chuẩn mực quốc tế.
Mục tiêu đến 2025-2030 là hình thành một số tập đoàn kinh tế nhà nước quy mô lớn, có năng lực công nghệ và quản trị tiên tiến, dẫn dắt các chuỗi giá trị quan trọng.
-
Định vị chân dung mới của doanh nghiệp nhà nước -
VinFast hợp tác với 30 trường đại học, cao đẳng - Chuẩn hóa chương trình và chất lượng đào tạo kỹ sư ô tô điện -
Những lưu ý về tính doanh thu, xuất hóa đơn và nghĩa vụ thuế khi bán hàng online -
HVC Group bứt tốc ngoạn mục, doanh thu tăng trưởng gần 80% so với năm 2024 -
Audi Việt Nam ra mắt Tổng giám đốc mới, giới thiệu chiến lược mới -
Tập đoàn Bel tăng gấp đôi công suất, khẳng định vai trò cung ứng ở châu Á -
Khoản đầu tư 1.000 tỷ đồng của Giao Hàng Nhanh đi vào vận hành
-
Dấu ấn bứt phá của Agribank: Tổng tài sản vượt 100 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vai trò dẫn dắt -
Vedan giữ vững vị trí “Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam” lần thứ 13 -
TSQ Việt Nam tổ chức lễ cất nóc Kepler Tower HH-01 - dấu mốc kiến tạo chuẩn sống mới -
Tập đoàn xe lửa hàng đầu Trung Quốc hợp tác Sun Group phát triển tuyến tàu điện đô thị LRT Phú Quốc -
Quà tặng Maison Gift JSC: Tạo dựng những kết nối tình cảm, tôn vinh truyền thống Việt -
Diễn đàn Kết nối doanh nghiệp khí Việt Nam với chuỗi cung ứng năng lượng quốc tế





