-
TP.HCM đề xuất 8 nhóm ngành kinh tế biển được hưởng cơ chế ưu đãi
-
Hải Phòng thông qua 8 nghị quyết về đầu tư công, ngân sách và đất đai
-
Từ 1/1/2028 sẽ thực hiện đồng bộ các quy định mới về giá đất
-
Ngành Tài chính mạnh mẽ số hóa thủ tục, mở rộng thanh toán điện tử
-
Cần luật hóa nguyên tắc kiểm chứng, sàng lọc dữ liệu định giá đất -
HĐND TP.HCM xem xét loạt cơ chế mới để huy động vốn phát triển đô thị
![]() |
| Đại biểu Quốc hội Trịnh Xuân An. |
Theo đại biểu Trịnh Xuân An, doanh nghiệp nhỏ cần nhất là vốn và sự ổn định, nhất quán của chính sách để có niềm tin đầu tư, phát triển.
Trao đổi bên hành lang Quốc hội chiều 29/10, khi Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, đại biểu Trịnh Xuân An (Đồng Nai), ủy viên chuyên trách Ủy ban Quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Quốc hội bày tỏ sự tán thành và đánh giá cao cơ quan soạn thảo đã tiếp thu nhiều ý kiến của đại biểu hoàn thiện một bước Dự thảo Luật.
Tuy nhiên, để việc chuyển từ “hỗ trợ” sang “phát triển” trở thành thay đổi thực chất, đại biểu An đề nghị tiếp tục hoàn thiện ba vấn đề.
Đầu tiên, ông An cho rằng cần cân nhắc sự cần thiết phân loại riêng doanh nghiệp siêu nhỏ khi chưa làm rõ tiêu chí và chính sách tương ứng.
Điều 4 xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Nhưng dự thảo chưa quy định trực tiếp ngưỡng phân biệt từng nhóm; các mức 300 lao động, 150 tỷ đồng nguồn vốn hoặc 400 tỷ đồng doanh thu mới là trần chung. Việc xác định thế nào là siêu nhỏ, nhỏ, vừa tiếp tục giao Chính phủ.
Về kỹ thuật, theo ông An, có thể giao Chính phủ quy định chi tiết. Nhưng về chính sách, cần trả lời rõ: phân thêm nhóm siêu nhỏ để giải quyết vấn đề gì; doanh nghiệp được hưởng gì khác biệt; việc chuyển giữa các nhóm có làm thay đổi nghĩa vụ và quyền lợi hay không?
Đề nghị của đại biểu An là cân nhắc không cần thiết duy trì “siêu nhỏ” như một nhóm phân loại riêng nếu chưa chứng minh được giá trị chính sách. Có thể xác định chung trong nhóm doanh nghiệp nhỏ, đồng thời thiết kế mức hỗ trợ, chế độ quản trị, kế toán, báo cáo phù hợp với quy mô thực tế. Doanh nghiệp ít lao động, doanh thu thấp thì thủ tục phải đơn giản hơn, khả năng tiếp cận dịch vụ cơ bản phải thuận lợi hơn.
Nếu vẫn giữ nhóm siêu nhỏ, Luật phải làm rõ nguyên tắc nhận diện và chính sách đặc thù. Không nên chỉ có thêm một tên gọi nhưng thiếu nội hàm, rồi khi thực hiện lại phát sinh thêm việc xác định, chứng minh hoặc chuyển nhóm.
Nhấn mạnh doanh nghiệp nhỏ cần nhất là vốn và sự ổn định, nhất quán của chính sách để có niềm tin đầu tư, phát triển, ông An cho biết về vốn, Điều 8 đã mở rộng cách diễn đạt, đề cập thị trường vốn, quỹ đầu tư, dòng tiền và tài sản vô hình. Nhưng cơ chế thực hiện vẫn thiên về tín dụng; các kênh vốn khác chưa được thiết kế tương xứng.
Một doanh nghiệp có sản phẩm tốt, có khách hàng, muốn mở rộng sản xuất nhưng vốn tự có mỏng thì không thể chỉ trông chờ vay ngân hàng. Khởi nghiệp sáng tạo cần vốn đầu tư chấp nhận rủi ro; doanh nghiệp sản xuất cần vốn dài hạn; doanh nghiệp có đơn hàng cần tài trợ nguyên liệu, khoản phải thu. Mỗi nhu cầu phải có công cụ phù hợp.
Từ phân tích trên, đại biểu đề nghị hoàn thiện Điều 8 theo ba hướng: tạo kênh vốn chủ sở hữu, đồng đầu tư và tạo điều kiện cho tăng trưởng vốn; có cơ chế bảo lãnh, chia sẻ rủi ro tín dụng thực chất; thúc đẩy tài trợ theo đơn hàng, hợp đồng, khoản phải thu và chuỗi cung ứng.
“Chúng ta không yêu cầu ngân hàng hạ chuẩn an toàn. Nhưng nếu Luật chỉ khuyến khích ngân hàng cho vay, còn việc chia sẻ rủi ro tiếp tục để nghiên cứu, thì doanh nghiệp thiếu tài sản bảo đảm vẫn khó tiếp cận vốn. Nhà nước cần xác lập công cụ và nguyên tắc chia sẻ rủi ro có kiểm soát; ngân hàng vẫn thẩm định, giám sát và chịu phần trách nhiệm của mình”, ông An trao đổi.
Việc sắp xếp các quỹ tại Điều 35, đại biểu An cho rằng cũng phải đặt trong yêu cầu đó. Có thể giữ, hợp nhất hoặc thay đổi mô hình, nhưng phải làm rõ chức năng nào được tiếp tục, ai thực hiện, nguồn lực ở đâu. Không thể bỏ một công cụ đang hoạt động yếu mà chưa xác định công cụ thay thế hiệu quả hơn.
Nhấn mạnh cùng với vốn là niềm tin chính sách, vị đại biểu Đồng Nai phân tích, doanh nghiệp đầu tư máy móc, tuyển người, ký hợp đồng trong nhiều năm, nên cần dự báo được nghĩa vụ và điều kiện kinh doanh. Một ưu đãi có thể giúp giảm chi phí trước mắt; sự ổn định, nhất quán mới giúp doanh nghiệp mạnh dạn bỏ vốn lâu dài.
Theo đại biểu, Điều 5 cần xác lập nguyên tắc bảo đảm tính liên tục của hỗ trợ. Doanh nghiệp đang thực hiện chương trình được phê duyệt mà tăng trưởng vượt ngưỡng thì cần có chuyển tiếp hợp lý, tránh mất quyền lợi đột ngột. Chính sách phải khuyến khích để doanh nghiệp nhỏ lớn lên. Đồng thời, sự ổn định không có nghĩa giữ nguyên mọi quy định, mà là thay đổi có căn cứ, có thời gian chuẩn bị, thực hiện thống nhất và không đẩy chi phí bất ngờ về phía doanh nghiệp.
Cùng với vốn và sự ổn định chính sách, phải giảm tối đa thủ tục hành chính. Điều doanh nghiệp nhỏ e ngại nhất chính là thủ tục: thiếu người làm hồ sơ, thiếu thời gian theo đuổi và không biết bao giờ mới có kết quả. Với doanh nghiệp nhỏ, thời gian chờ đợi cũng là chi phí vốn và có thể là một cơ hội kinh doanh bị mất đi.
Đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 5 nguyên tắc ưu tiên cơ chế “luồng xanh” đối với thủ tục đủ điều kiện, ít rủi ro và doanh nghiệp tuân thủ tốt: giảm hồ sơ, rút ngắn thời gian, tăng xử lý tự động và chuyển sang hậu kiểm phù hợp.
Đồng thời, Điều 16 và các điều về trách nhiệm tổ chức thực hiện cần xác lập cơ chế một cửa liên thông, trước hết cho DNNVV: doanh nghiệp cung cấp thông tin một lần, nộp hồ sơ tại một đầu mối; cơ quan nhà nước tự phối hợp, chia sẻ dữ liệu và trả kết quả trong thời hạn rõ ràng. Không thể để doanh nghiệp phải làm người chuyển hồ sơ giữa các cơ quan.
Đây phải là một ưu đãi thiết thực được xác lập ngay trong Luật. Giảm được thủ tục là trả lại thời gian, nguồn lực và cơ hội để doanh nghiệp tập trung sản xuất, kinh doanh.
Vấn đề tiếp theo đại biểu An nhấn mạnh là cần cơ chế đủ mạnh để doanh nghiệp nhỏ phát triển trong chuỗi và hệ sinh thái, với sự tham gia thực chất của doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhà nước.
Doanh nghiệp nhỏ cần được tiếp cận đơn hàng, tiêu chuẩn kỹ thuật, công nghệ, dữ liệu và phương thức quản trị của doanh nghiệp đầu chuỗi. Một cuộc kết nối có thể mở cơ hội; quan hệ cung ứng ổn định mới giúp doanh nghiệp đầu tư và trưởng thành.
Ông An đề nghị bổ sung tại Điều 22 cơ chế chương trình phát triển nhà cung cấp: doanh nghiệp đầu chuỗi xác định nhu cầu, tiêu chuẩn; doanh nghiệp nhỏ có lộ trình nâng cấp; các bên thỏa thuận trách nhiệm, chi phí và kết quả.
Nhà nước hỗ trợ những khâu cần thiết trên cơ sở hợp tác thực chất, có thể kiểm chứng. Trong mối quan hệ này, cần phải xác định cơ chế cùng thắng, cùng hưởng lợi và có cơ chế để tránh tình trạng "cá lớn, nuốt cá bé" hoặc ỷ lớn bắt nạt nhỏ.
“Tôi mong Luật lần này tạo được ba điều kiện thiết thực: doanh nghiệp được quản lý tương xứng với quy mô; có vốn và sự yên tâm để đầu tư; có đối tác, đơn hàng và cơ hội trưởng thành trong chuỗi giá trị. Đó cũng phải là những kết quả để đánh giá hiệu quả thi hành Luật”, đại biểu An chia sẻ.
-
Cần luật hóa nguyên tắc kiểm chứng, sàng lọc dữ liệu định giá đất -
HĐND TP.HCM xem xét loạt cơ chế mới để huy động vốn phát triển đô thị -
Quy định về giá đất được tiếp thu, chỉnh lý rõ ràng hơn -
Kế hoạch cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp giai đoạn 2026 - 2030 -
Bảo đảm tiến độ chuẩn bị cho Năm APEC Việt Nam 2027 -
Bảo vệ nhà đầu tư là mục tiêu quan trọng khi sửa Luật Chứng khoán -
Lâm Đồng có tân Phó Chủ tịch UBND tỉnh
-
Đất Xanh Miền Trung ra quân dự án căn hộ Grand Marina Da Nang
-
CMA CGM, Nike và Gemadept ra mắt sà lan điện không phát thải trực tiếp
-
Keppel trở thành một trong những thành viên đầu tiên của Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam
-
Top 10 Nơi làm việc tốt nhất Việt Nam 2026 ngành Vật liệu xây dựng
-
Công bố Top 10 Nơi làm việc tốt nhất Việt Nam 2026 ngành Xây dựng
-
16 doanh nghiệp nhận sự hỗ trợ của Samsung để nâng cao năng lực sản xuất
