Báo Đầu Tư
Thứ Ba, Ngày 27 tháng 10 năm 2026,
Thiếu dữ liệu, doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận nguồn vốn xanh
Trọng Tín - 27/10/2026 15:19
  Print
Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa đã triển khai các hoạt động tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường và chăm lo người lao động, nhưng chưa có hệ thống dữ liệu để chứng minh hiệu quả.
 Các chuyên gia cho rằng ESG đang trở thành một trong những yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh, khả năng tiếp cận thị trường và nguồn vốn của doanh nghiệp. Ảnh: Lê Toàn.

Tại phiên thảo luận song song với chủ đề “ESG và Kinh tế Tuần hoàn”, diễn ra ngày 27/10 trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 (AEF 2026), các chuyên gia và lãnh đạo doanh nghiệp cho rằng ESG đang trở thành một trong những yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh, khả năng tiếp cận thị trường và nguồn vốn của doanh nghiệp.

Thiếu dữ liệu trở thành rào cản tiếp cận vốn xanh

Theo ông Hoàng Văn Tâm, Trưởng phòng Tổng hợp, Cục Khoa học - Công nghệ và Chuyển đổi số (Bộ Công Thương), kết quả khảo sát cho thấy nhiều doanh nghiệp sản xuất hiện chưa có cải thiện hoặc hoàn toàn thiếu dữ liệu ESG.

Thực trạng này khiến doanh nghiệp gặp khó khăn khi tiếp cận các khoản tín dụng xanh, đồng thời hạn chế khả năng đáp ứng những hàng rào kỹ thuật ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế.

Trong bối cảnh các đối tác thương mại và tổ chức tài chính ngày càng chú trọng tiêu chí môi trường, xã hội và quản trị, việc thiếu dữ liệu không chỉ là hạn chế trong công tác quản lý nội bộ mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp.

Để tháo gỡ, ông Tâm cho rằng doanh nghiệp cần phải giải quyết bài toán ESG theo từng cấp độ. Bắt đầu từ hóa đơn điện, nước, nhiên liệu sẵn có, tiến tới lắp đặt cảm biến đo đạc chi phí thấp tại các thiết bị tiêu thụ năng lượng lớn. Và cuối cùng là xác định vết carbon trên từng sản phẩm.

Ông Hà Huy Cường, Phó tổng giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Nam A Bank cũng nhìn nhận nhiều doanh nghiệp thực tế đã thực hành ESG trong hoạt động thường ngày nhưng chưa hệ thống hóa thành những báo cáo có thể kiểm chứng.

Chẳng hạn, việc tiết kiệm điện, nước, giấy hoặc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với người lao động đều là những hoạt động có liên quan đến ESG. Tuy nhiên, nếu không được ghi nhận, đo lường và tổng hợp theo các tiêu chí phù hợp, doanh nghiệp sẽ khó chứng minh kết quả thực hiện với các tổ chức tín dụng.

Theo ông Cường, trên thực tế, số lượng khách hàng đã có đầy đủ năng lực thực hành ESG để đáp ứng ngay yêu cầu của các gói tín dụng xanh vẫn còn khá ít. Vì thế, phía ngân hàng đã phải tổ chức thêm nhiều chương trình kỹ thuật tư vấn, khung quản trị rủi ro môi trường - xã hội.

Đại diện Nam A Bank cho biết, khi khách hàng vượt qua khung quản trị rủi ro này thì sẽ tiếp cận được các gói vay, nguồn vốn xanh với mức lãi suất ưu đãi. Xa hơn, doanh nghiệp SME được tạo động lực nâng cao năng lực cạnh tranh theo lộ trình ESG.

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Trần Trung, Giám đốc điều hành Doanh nghiệp xã hội tư vấn tài chính bền vững, khuyến nghị các SME nằm trong chuỗi cung ứng toàn cầu cần chủ động bám sát bộ tiêu chuẩn của người mua và yêu cầu của các tổ chức tài chính để thiết lập hệ thống quản trị phù hợp, mở khóa các nguồn vốn bền vững trong tương lai.

ESG trở thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp

Không chỉ tác động đến khả năng tiếp cận nguồn vốn, ESG còn đang trở thành yếu tố quan trọng trong quá trình lựa chọn nhà cung ứng và đối tác kinh doanh.

Ông Hoàng Mạnh Thắng, Phó tổng giám đốc Phát triển kinh doanh, lãnh đạo ngành hàng tiêu dùng và bán lẻ, Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam, cho rằng trong môi trường kinh doanh giữa các doanh nghiệp (B2B), sự cạnh tranh ngày càng gay gắt khi những yếu tố truyền thống như giá cả, chất lượng sản phẩm và tiến độ giao hàng giữa các nhà cung ứng dần trở nên tương đồng.

Trong bối cảnh đó, hồ sơ năng lực ESG có thể trở thành yếu tố tạo ra sự khác biệt, thậm chí quyết định doanh nghiệp nào giành được hợp đồng.

Tuy nhiên, theo ông Thắng, để ESG thực sự mang lại lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp phải xây dựng được niềm tin với khách hàng và đối tác thông qua dữ liệu minh bạch, có bằng chứng kiểm chứng.

Ông nhấn mạnh quan điểm “niềm tin là tiền tệ”, đồng thời cảnh báo nguy cơ doanh nghiệp rơi vào tình trạng “tẩy xanh” nếu công bố những cam kết hoặc kết quả phát triển bền vững không có cơ sở thực tế.

Vì vậy, thay vì triển khai quá nhiều mục tiêu cùng lúc, doanh nghiệp nên lựa chọn một sản phẩm hoặc một vấn đề ưu tiên để bắt đầu đo lường, thiết lập dữ liệu cơ sở và từng bước cải thiện hiệu quả.

Từ kinh nghiệm thực tiễn tại doanh nghiệp xây dựng, ông Bolat Duisenov, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Xây dựng Coteccons, cho rằng ESG đôi khi bị coi là một thuật ngữ mang tính học thuật hoặc những tiêu chuẩn phức tạp, trong khi bản chất có thể được hiểu thông qua ba yếu tố cốt lõi: con người, môi trường và niềm tin.

“ESG trước hết là một ngôn ngữ chung của kinh doanh, ngôn ngữ của sự minh bạch, của dữ liệu, của các tiêu chí đánh giá thống nhất và trên hết là ngôn ngữ của niềm tin”, ông Bolat Duisenov nhấn mạnh.

Theo đại diện Coteccons, quản trị trong doanh nghiệp trước hết là sự tuân thủ để tạo dựng niềm tin bền vững giữa nhà thầu chính, nhà thầu phụ và khách hàng. Ở khía cạnh môi trường, ngành xây dựng vốn có mức phát thải lớn, do đó doanh nghiệp đã thúc đẩy sử dụng vật liệu xanh như bê tông xanh và tối ưu vật liệu thép, qua đó cắt giảm hơn 300.000 tấn phát thải CO2 trong năm qua.

Tiến sĩ Kim Jae-hong, Chủ tịch Thường trực Liên minh Quốc gia Hành động ESG, cho rằng các tiêu chuẩn ESG đang ngày càng gắn chặt với hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế.

Ông dẫn Chỉ thị Báo cáo Bền vững Doanh nghiệp của Liên minh châu Âu (CSRD) như một ví dụ cho xu hướng gia tăng yêu cầu công bố thông tin bền vững. Theo đó, doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh liên quan đến thị trường quốc tế cần chủ động chuẩn bị năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn ESG, thay vì chỉ xem đây là những quy định gây khó khăn.

Theo ông Kim Jae-hong, các yêu cầu về ESG đang trở thành một trong những yếu tố mà doanh nghiệp phải tính đến khi tham gia thương mại quốc tế và thu hút đầu tư.

Bên cạnh yêu cầu tuân thủ, ông cũng nhấn mạnh sự chuyển đổi từ mô hình kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn, trong đó tài nguyên và vật liệu được quản lý xuyên suốt từ khâu thiết kế, sản xuất, phân phối, tiêu dùng đến tái sử dụng.

Khác với mô hình chỉ tập trung thu hồi và tái chế chất thải sau tiêu dùng, kinh tế tuần hoàn hướng đến việc thay đổi toàn bộ cách thức tổ chức sản xuất và sử dụng tài nguyên.

Một trong những mô hình được ông đề cập là “Sản phẩm như một dịch vụ”, theo đó doanh nghiệp cung cấp quyền sử dụng sản phẩm thay vì chỉ bán và chuyển giao quyền sở hữu. Cách tiếp cận này khuyến khích doanh nghiệp thiết kế sản phẩm bền hơn, dễ sửa chữa và tái sử dụng, đồng thời mở ra những mô hình doanh thu mới và góp phần giảm rủi ro chuỗi cung ứng.
Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 hướng tới tinh thần hợp tác trong kỷ nguyên mới
Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 hướng tới tinh thần hợp tác trong kỷ nguyên mới
Thông điệp chính năm nay là chuyển từ ứng phó với biến động sang chủ động kiến tạo quan hệ đối tác, xây dựng lòng tin và cùng phát triển các...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư