-
Highlands Coffee tiến gần IPO: Thương vụ 2.300 tỷ đồng là bước dạo đầu? -
Ngành dệt may đạt doanh thu xuất khẩu 32 tỷ USD -
Bước chuyển mới trong hợp tác thương mại Việt - Mỹ -
Vietnam Airlines mở rộng năng lực huấn luyện cho chiến lược đội bay mới -
Masan: Khi tăng trưởng, dòng tiền và niềm tin cùng được củng cố -
Thương nhân phải có kho chuyên dùng, cơ sở xay xát mới được kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo
![]() |
| Việt Nam mới đó chỉ có khoảng hơn 300 doanh nghiệp tham gia vào mạng lưới sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia. |
Trong báo cáo mới đây gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh cho biết, muy mô và năng lực của các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ (CNHT) trong nước còn nhiều hạn chế, số lượng doanh nghiệp CNHT còn quá ít.
Hiện, trên toàn quốc trong số khoảng 1.800 doanh nghiệp sản xuất phụ tùng, linh kiện, trong đó chỉ có khoảng hơn 300 doanh nghiệp trong nước tham gia vào mạng lưới sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia.
"Mặc dù đây là nền tảng để công nghiệp hóa, các năm qua số lượng các doanh nghiệp thành lập mới trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp vẫn chưa nhiều. Do không có nhiều nhà cung cấp, nên các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cuối cùng khó có thể tìm mua phụ tùng, linh kiện trong nước mà phải nhập khẩu hoặc tự sản xuất", Báo cáo nêu.
Trình độ sản xuất và công nghệ của doanh nghiệp dẫu từng bước được cải thiện, các sản phẩm CNHT trong nước chủ yếu vẫn là linh kiện và chi tiết đơn giản, với hàm lượng công nghệ trung bình và thấp, có giá trị nhỏ trong cơ cấu giá trị sản phẩm. Các sản phẩm CNHT có hàm lượng công nghệ cao vẫn chủ yếu do các doanh nghiệp FDI cung cấp.
Năng lực tổ chức quản lý sản xuất và công nghệ kỹ thuật của phần lớn các doanh nghiệp CNHT Việt Nam còn nhiều hạn chế, doanh nghiệp nội địa chỉ mới cung ứng được khoảng 10% nhu cầu trong nước về sản phẩm CNHT. Khoảng cách giữa yêu cầu của các Tập đoàn đa quốc gia và năng lực đáp ứng của các doanh nghiệp sản xuất nội địa còn rất lớn
Số liệu từ Báo cáo cho thấy, tỷ lệ nội địa hóa các ngành điện tử gia dụng là 30 - 35% nhu cầu linh kiện; và điện tử phục vụ các ngành ô tô - xe máy khoảng 40% - chủ yếu cho sản xuất xe máy.
Đối với ngành sản xuất, lắp ráp ô tô, một số dòng xe đã đạt tỷ lệ nội địa hóa cao và vượt mục tiêu Chiến lược và Quy hoạch công nghiệp ô tô Việt Nam đề ra, đáp ứng về cơ bản thị trường nội địa (xe tải đến 07 tấn đáp ứng khoảng 70% nhu cầu, với tỷ lệ nội địa hóa trung bình 55%; xe khách từ 10 chỗ ngồi trở lên, xe chuyên dụng đáp ứng khoảng 90% nhu cầu, với tỷ lệ nội địa hóa đạt tối đa đến 40%).
Tỷ lệ nội địa hoá đối với xe cá nhân đến 9 chỗ ngồi còn thấp: mục tiêu đề ra là 40% vào năm 2005, 60% vào năm 2010, tuy nhiên đến nay mới đạt bình quân khoảng 7 - 10%, trong đó Thaco đạt 15 - 18%, Toyota Việt Nam đạt 37% đối với riêng dòng xe Innova, thấp hơn mục tiêu đề ra.
Hạn chế về CNHT nên tình trạng nhập siêu linh kiện, phụ tùng còn rất lớn. Năm 2019, kim ngạch nhập khẩu linh kiện, phụ tùng là 36,64 tỷ USD, tăng hơn 11,4% so với 2018.
Đơn cử, với ngành dệt may, tỷ lệ nội địa hóa đạt của các doanh nghiệp dệt may mới đạt khoảng 40 - 45%. Vải sử dụng cho ngành phụ thuộc chủ yếu vào nhập khẩu. Ngành vải may của Việt Nam hiện nay đạt sản lượng khoảng 2,3 tỷ m2/năm, mới chỉ đáp ứng được khoảng 25% nhu cầu thị trường trong nước.
Trong năm 2019, Việt Nam nhập khẩu khoảng 13 tỷ USD vải phục vụ cho ngành may mặc. Vải sản xuất trong nước phần lớn được sử dụng để sản xuất quần áo chất lượng trung bình và thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc xuất khẩu.
Đối với ngành da giày, nguyên phụ liệu chiếm tới 68 - 75% trong cơ cấu giá thành sản phẩm giày dép, nhưng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm này của doanh nghiệp Việt Nam hiện chỉ đạt 40 - 45%. Các doanh nghiệp trong nước chiếm gần 70% về số lượng doanh nghiệp, nhưng chỉ chiếm 35% tổng sản lượng da thuộc sản xuất tại Việt Nam.
Tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành điện tử tin học, viễn thông chỉ đạt 15%, điện tử chuyên dụng và các ngành công nghiệp công nghệ cao chỉ đạt 5%.
Theo nhận định của Bộ Công Thương, ngành điện tử của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào các doanh nghiệp FDI, đặc biệt là Samsung. Hầu hết các linh kiện nội địa hóa đều do các doanh nghiệp FDI cung cấp. Mới chỉ có khoảng 35 doanh nghiệp Việt Nam là nhà cung ứng cấp 1 cho Samsung. Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu cung cấp vật tư tiêu hao, bao bì, in ấn...với giá trị cung ứng rất nhỏ so với nhu cầu linh kiện và phụ tùng của Samsung.
Số doanh nghiệp đang hoạt động trong CNHT khoảng 1.800 doanh nghiệp sản xuất phụ tùng, linh kiện và hơn 1.500 doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu cho ngành dệt may, da giày (chiếm gần 4,5% tổng số doanh nghiệp của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo). Các doanh nghiệp CNHT tạo việc làm cho hơn 600.000 lao động, với doanh thu thuần sản xuất, kinh doanh trong năm 2019 ước đạt hơn 900.000 tỷ đồng, đóng góp khoảng 11% tổng doanh thu toàn ngành chế biến, chế tạo. 
-
Masan: Khi tăng trưởng, dòng tiền và niềm tin cùng được củng cố -
Thương nhân phải có kho chuyên dùng, cơ sở xay xát mới được kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo -
Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Canada tại ASEAN -
Cà Mau mở rộng không gian liên kết, tạo động lực tăng trưởng mới -
Lãnh đạo EVNNPT kiểm tra tiến độ 4 dự án quan trọng nhằm đảm bảo điện cho miền Bắc -
Dự án lớn phải kéo doanh nghiệp Quảng Trị vào chuỗi giá trị -
AkzoNobel đón đầu chuyển dịch của chuỗi giá trị bất động sản Việt Nam
-
SCIC tiến tới hình thành Quỹ Đầu tư quốc gia
-
Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước -
Công ty Cổ phần Cảng Sài Gòn thông báo mời chào giá tìm kiếm, lựa chọn khách hàng thuê bãi chứa hàng tổng hợp -
Vận động viên người khuyết tật cập nhật kiến thức dinh dưỡng trước các giải đấu quốc tế -
SAIGONTEL thúc đẩy nội địa hóa công nghệ với đối tác Hoa Kỳ -
Thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực năng lượng giữa EVN và bang Tây Úc

