Thứ Bảy, Ngày 25 tháng 04 năm 2026,
Một năm có Nghị quyết 68: Doanh nghiệp lớn “hưng phấn”, doanh nghiệp nhỏ vẫn loay hoay
Khánh Linh - 25/04/2026 20:53
 
Hai gam màu đối lập giữa khu vực doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp lớn đang được giới chuyên gia nhận diện sau một năm Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân được ban hành.

Không gian phát triển mới cho nhóm doanh nghiệp có tiềm lực mạnh

“Ở các tập đoàn lớn, không khí rất sôi nổi với nhiều dự án lớn, ý tưởng mới. Nhưng khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh thì bức tranh trầm lắng hơn nhiều”.

Ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) mô tả hai gam màu chính của chân dung khu vực kinh tế tư nhân sau một năm Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân được ban hành.

Ông Nguyễn Ánh Dương, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược phát biểu tại Hội thảo

Phát biểu tại Hội thảo quốc gia “Kinh tế Việt Nam năm 2025 và triển vọng 2026: Thúc đẩy phát triển kinh tế số trong kỷ nguyên mới” và công bố Ấn phẩm Đánh giá kinh tế Việt Nam thường niên 2025 của Đại học Kinh tế Quốc dân, ông Tuấn lý giải, không khí sôi nổi của trong các tập đoàn kinh tế lớn có được nhờ cơ chế, chính sách mới, tháo gỡ pháp lý cho nhiều dự án, mở cơ hội đầu tư tư nhân trong nhiều lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế.

Có một thực tế dễ nhận thấy: các cải cách thể chế gần đây đang mở ra nhiều không gian phát triển mới cho nhóm doanh nghiệp có tiềm lực mạnh.

Từ đầu tư hạ tầng, công nghệ chiến lược, kinh tế số, AI, năng lượng, logistics cho tới các dự án quy mô lớn theo mô hình đối tác công tư…, phần lớn đều đòi hỏi năng lực tài chính, quản trị và khả năng chịu rủi ro cao. Đây là lợi thế của các tập đoàn lớn.

Thậm chí, ông Nguyễn Anh Dương, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (Ban Chính sách, chiến lược Trung  ương), còn nhìn thấy khả năng bùng nổ của khu vực này.

“Tâm thế của các doanh nghiệp lớn hiện nay như "lò xo bị nén" đang chực chờ bật ra. Về thiết kế chính sách, các chủ trương lớn được xây dựng rất nhanh, quyết liệt, thậm chí là "không quá cầu toàn" để doanh nghiệp vận hành. Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất nằm ở khâu thực thi”, ông Nguyễn Ánh Dương phân tích.

Thứ nhất, tốc độ xây dựng chính sách nhanh dẫn đến những sai sót ở các văn bản hướng dẫn nhỏ hơn. Vai trò của dữ liệu thời gian thực trong xây dựng chính sách còn mờ nhạt. Thứ hai: Sự chậm trễ của các văn bản hướng dẫn. Năm 2025 có tới 173 văn bản ban hành chậm hơn hiệu lực của luật. Năm 2026 chúng ta có một khối lượng luật khổng lồ (từ 86 đến 89 luật), nếu không có văn bản hướng dẫn kịp thời thì cơ hội sẽ bị trôi qua.

Thứ ba: Tâm lý "ngại ngùng" của cán bộ thực thi.

“Tôi xin kể ví dụ về dự án tài trợ 4 tỷ đồng cho sáng kiến số của một Bộ. Ý tưởng rất tốt, doanh nghiệp rất hăng hái, nhưng đến lúc thực thi thì vướng khâu thẩm định tài chính: "Cơ sở nào để định giá 4 tỷ? Dựa trên 2.000 hay 2 triệu dòng code?". Vì chưa có tiền lệ nên cơ quan thẩm định giá không dám làm”, ông Dương kể.

Tâm thế "thận trọng" của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Đáng nói là những thay đổi rất nhanh trong cơ chế, chính sách khiến các doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa khó khăn hơn cả.

Ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phát biểu tại Hội thảo

“Tôi đánh giá cao tinh thần "vướng đâu gỡ đó" của Chính phủ. Nhiều quyết định chưa có tiền lệ như đưa thuế suất về 0% hay các Nghị quyết cho phép sửa luật theo quy trình rút gọn. Tuy nhiên, hệ lụy của việc văn bản quá nhiều là các bộ ngành và địa phương không theo kịp, dẫn đến ùn tắc trong việc thực thi các quy định mới”, ông Tuấn làm rõ.

Tất nhiên, phần trầm lắng của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh do nhiều nguyên nhân. Xuất khẩu khu vực nội địa đang giảm dần tỷ trọng so với FDI (quý I/2026 khu vực nội địa chỉ còn chiếm khoảng 20-25%). Các hộ kinh doanh hiện chủ yếu là "cầm cự" để tồn tại trước chi phí tăng cao, nhiều cơ chế, chính sách mới phải tuân thủ.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đều phải đối mặt với những khó khăn khách quan, như chiến sự ở Trung Đông làm giá dầu và chi phí vận tải tăng 30%, khan hiếm nguyên liệu sản xuất, nhất là các ngành dệt may, da giày, thủy sản.

Theo phân tích của nhóm nghiên cứu của Đại học Kinh tế Quốc dân trong Ấn phẩm Đánh giá kinh tế Việt Nam thường niên 2025, cho dù khu vực doanh nghiệp năm 2025 cho thấy sự phục hồi rõ nét về số lượng, với gần 195 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và hơn 110 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Tuy nhiên, sự gia tăng này chủ yếu đến từ các doanh nghiệp quy mô nhỏ, với vốn và lao động bình quân thấp, phản ánh chất lượng phục hồi chưa cao. Bên cạnh đó, doanh nghiệp vẫn đối mặt với nhiều khó khăn về thể chế, chi phí tuân thủ và tiếp cận vốn, trong khi tâm lý kinh doanh còn thận trọng.

"Điều này cho thấy khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực tư nhân, chưa thực sự trở thành động lực bền vững cho tăng trưởng kinh tế", nhóm nghiên cứu nhấn mạnh.

Ngoài ra, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa còn đứng trước sức ép cạnh tranh mới trong kỷ nguyên số và AI.

Ông Đậu Anh Tuấn cho rằng doanh nghiệp Việt có lợi thế linh hoạt, nhưng phần lớn SME quá nhỏ để đủ nguồn lực thuê nhân sự công nghệ cao hoặc đầu tư bài bản cho chuyển đổi số.  Một con số đáng chú ý được ông Nguyễn Anh Dương đưa ra là 48% doanh nghiệp vừa và nhỏ đã từ bỏ các giải pháp chuyển đổi số sau dịch Covid-19.

“Điều này cho thấy chúng ta cần một cách tiếp cận thực chất hơn trong cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp”, ông Dương đề xuất.

Đây cũng là điểm nhấn của Ấn phẩm Đánh giá kinh tế Việt Nam thường niên 2025 của Đại học Kinh tế Quốc dân khi nhắc tới sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam.

Hội thảo quốc gia “Kinh tế Việt Nam năm 2025 và triển vọng 2026: Thúc đẩy phát triển kinh tế số trong kỷ nguyên mới” và công bố Ấn phẩm Đánh giá kinh tế Việt Nam thường niên 2025 của Đại học Kinh tế Quốc dân


Theo GS-TS. Tô Trung Thành, Trưởng phòng Quản lý khoa học Đại học Kinh tế Quốc dân, một trong 2 chủ biên của Ấn phẩm phân tích, một năm chưa đủ để đánh giá đầy đủ tác động của các nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân, dù vậy, có thể thấy rằng nếu cải cách thể chế được thực hiện đúng và hiệu quả. Đây sẽ là yếu tố mang tính đột phá, góp phần nâng cao năng suất và tăng trưởng trong dài hạn.

Tuy nhiên, ông Thành nhấn mạnh, khu vực này cần thêm các động lực và hỗ trợ từ Nhà nước trong thời gian tới.

"Chúng tôi kỳ vọng rằng, với các cải cách thể chế mới, kinh tế tư nhân sẽ trở thành một động lực tăng trưởng quan trọng trong giai đoạn tiếp theo", GS-TS. Tô Trung Thành khuyến nghị

Hợp tác công tư để thúc đẩy kinh tế số
Để phát triển kinh tế số, tránh tình trạng độc quyền, Chính phủ cần thúc đẩy quá trình đầu tư hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin với sự...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư