-
KITA Group đề xuất đầu tư đa lĩnh vực tại Lâm Đồng -
Cần Thơ: Chấp thuận chủ trương đầu tư Khu công nghiệp Tân Hòa vốn gần 4.000 tỷ đồng -
Chủ tịch Gia Lai: Tỉnh luôn chào đón doanh nghiệp Hàn Quốc đến đầu tư -
TP.HCM lo ngại giá vật liệu xây dựng tăng khi đầu tư công tăng tốc -
Dự án cầu Cát Lái tăng thêm 3.389 tỷ đồng vốn đầu tư
![]() |
| Sản xuất linh kiện điện tử tại nhà máy của Panasonic Việt Nam. Ảnh: Đức Thanh |
Đón dòng dịch chuyển mới
Gần 73 tỷ USD là doanh thu xuất khẩu mà các doanh nghiệp điện tử đạt được tính đến ngày 15/5/2026, gần 95% trong số này được thực hiện bởi các doanh nghiệp FDI. Như vậy, so với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu điện tử tăng thêm 19,23 tỷ USD, đồng nghĩa Việt Nam đang đón làn sóng dịch chuyển đầu tư ngày càng mạnh từ các doanh nghiệp FDI.
“Cục diện kinh tế và địa chính trị thế giới tiếp tục biến động mạnh kéo theo làn sóng tái cấu trúc chuỗi cung ứng diễn ra với tốc độ nhanh hơn và Việt Nam tiếp tục là điểm đến của nhiều tập đoàn, doanh nghiệp toàn cầu”, ông Lê Hoàng Tài, Phó cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công thương) nói tại Hội thảo Xu hướng và giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu mới đây.
Dòng dịch chuyển của chuỗi cung ứng cũng thể hiện qua tổng vốn FDI đăng ký tại Việt Nam trong 4 tháng tăng 32%, với 18,24 tỷ USD và vốn FDI thực hiện đạt 7,4 tỷ USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước - cũng là con số cao nhất của 4 tháng đầu năm trong 5 năm qua, theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính).
Báo cáo cập nhật kinh tế Việt Nam trong tháng 5/2026 của Ngân hàng Thế giới (WB) nhấn mạnh: “Quá trình tái định vị chuỗi cung ứng đã góp phần đưa dòng vốn FDI vào Việt Nam năm 2025 lên mức cao nhất trong 5 năm gần đây, với tổng vốn đăng ký đạt 38,4 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm 2024, vốn giải ngân đạt mức kỷ lục 27,6 tỷ USD, tăng 9% so với năm 2024”.
Vốn FDI giải ngân liên tục gia tăng cho thấy niềm tin mạnh mẽ của nhà đầu tư nước ngoài và sự mở rộng của khu vực chế biến, chế tạo.
Một số dự án tiêu biểu trong những tháng đầu năm 2026 gồm Dự án Samsung Electro-Mechanics Việt Nam số 2 (thuộc Công ty TNHH Samsung Electro-Mechanics Việt Nam) tại Thái Nguyên, sản xuất bảng mạch điện tử cao cấp cho ô tô tự lái, robot và thiết bị thông minh, vốn đăng ký mới 1,2 tỷ USD; hay Nhà máy Seojin Việt Nam chuyên sản xuất linh kiện điện tử tăng, vốn đầu tư 453,8 triệu USD…
“Việt Nam đã và đang là quốc gia hưởng lợi chính khi khu vực đang cơ cấu lại các chuỗi cung ứng, nhờ có những lợi thế mang tính cơ cấu như chi phí lao động thấp, thị trường trong nước đang phát triển, hạ tầng logistics định hướng xuất khẩu và phạm vi bao phủ lớn của các FTA”, WB nhận định.
Cùng với đó, thỏa thuận tương đối thuận lợi đạt được với Mỹ về thuế quan đối ứng IEEPA vào giữa năm 2025 đã củng cố thêm lợi thế tương quan của Việt Nam so với các quốc gia khác trong khu vực Đông Á. Điều này càng đẩy mạnh hơn nữa quá trình tái cơ cấu các chuỗi cung ứng theo hướng chuyển sang Việt Nam.
Áp lực sau dòng vốn tỷ USD
Việt Nam đang trở thành điểm đến của nhiều doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc trong quá trình tái bố trí sản xuất toàn cầu. Tuy nhiên, theo TS. Bùi Hồng Sơn, Chuyên gia kinh tế Viện Chiến lược kinh tế quốc tế, phần lớn hoạt động dịch chuyển vào Việt Nam hiện vẫn chủ yếu nằm ở các khâu lắp ráp hoặc phân khúc giá trị thấp.
Ông Sơn nhìn nhận, đây là nghịch lý lớn trong bức tranh tăng trưởng hiện nay, bởi xuất khẩu tăng mạnh, FDI liên tục mở rộng với các dự án quy mô hàng tỷ USD, nhưng doanh nghiệp nội địa vẫn rất khó chen chân vào các mắt xích có giá trị gia tăng cao, do khoảng cách về công nghệ, kỹ năng và năng lực quản trị.
Nền kinh tế kép của Việt Nam phản ánh một mô hình tăng trưởng rất thành công, nhưng chưa đồng đều. Trong đó, các doanh nghiệp hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu là động lực chính của sản xuất và xuất khẩu, song mức độ lan tỏa sang toàn nền kinh tế còn hạn chế. Để tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và khu vực kinh tế trong nước đòi hỏi sự chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa vào FDI sang hội nhập dựa trên năng lực, với các chính sách hướng tới cả doanh nghiệp và thể chế.
- Ngân hàng Thế giới
Lãnh đạo một doanh nghiệp sản xuất sợi tại Nam Định từng chia sẻ, việc đưa sản phẩm vào chuỗi cung ứng của khu vực FDI tại Việt Nam rất nan giải. Bên cạnh chất lượng, giá cả, nhà cung ứng Việt phải thỏa mãn nhiều yếu tố khác liên quan đến quy trình sản xuất, như nhà máy xanh, năng lượng sạch, phát triển bền vững.
Cả nước hiện có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, nhưng chỉ khoảng 5.000 doanh nghiệp có kết nối trực tiếp với các chuỗi cung ứng toàn cầu hoặc các tập đoàn đa quốc gia. Trong số này, chỉ khoảng 300 doanh nghiệp là nhà cung ứng cấp 1 và cấp 2; chỉ khoảng 100 doanh nghiệp Việt Nam trực tiếp trở thành nhà cung ứng cấp 1 cho các tập đoàn quốc tế.
Theo các chuyên gia, sự dịch chuyển chuỗi cung ứng không còn chỉ là câu chuyện của chi phí hay thuế quan. Các doanh nghiệp toàn cầu đang tái thiết chuỗi cung ứng theo hướng linh hoạt hơn, an toàn hơn và ít phụ thuộc hơn vào một khu vực duy nhất. Cụ thể, họ không chỉ tìm kiếm nơi sản xuất rẻ, mà tìm kiếm nơi có thể đảm bảo vận hành ổn định trong dài hạn - từ hạ tầng logistics, năng lượng, chất lượng lao động tới khả năng đáp ứng tiêu chuẩn công nghệ và phát triển bền vững.
Xuất khẩu tăng cao nhờ dòng vốn đầu tư lớn đổ vào Việt Nam, nhưng phụ thuộc lớn vào nhập khẩu, dẫn tới đóng góp của xuất khẩu ròng đến tăng trưởng đang giảm. Báo cáo của WB chỉ ra rằng, trong điều kiện nhu cầu về đầu vào trung gian cho các hoạt động sản xuất và chế biến, chế tạo định hướng xuất khẩu vẫn ở mức cao, nhập khẩu cũng tăng mạnh khiến xuất khẩu ròng đóng góp ở mức âm cho tăng trưởng GDP (0,76 điểm phần trăm) trong hai năm liên tục.
Tuần trước, tại cuộc gặp với Phó thủ tướng thường trực Phạm Gia Túc của 2 ngành đóng góp trên 80 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu năm 2025 là dệt may, da giày, ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) đã nêu một vấn đề không mới. “Các doanh nghiệp dệt may FDI đang có lợi thế hơn hẳn với doanh nghiệp trong nước về hệ thống chuỗi thị trường gắn với các nhãn hàng lớn từ châu Âu và Mỹ, công nghệ sản xuất, năng lực quản trị hệ thống”, ông nói.
Năm 2025, riêng nhóm hàng dệt may đạt kim ngạch 39,64 tỷ USD, khu vực FDI đóng góp tới 24,7 tỷ USD; giày dép 24,2 tỷ USD, FDI đóng góp 19,6 tỷ USD... Các doanh nghiệp FDI đóng góp khoảng 73% tổng giá trị xuất khẩu, khẳng định vai trò sản xuất vượt trội của khu vực này. Tuy nhiên, khu vực này cũng nhập khẩu hơn 50% đầu vào phục vụ xuất khẩu, cao hơn nhiều so với con số của các nước trong khu vực.
Một thực tế nữa cũng được chỉ ra, dòng vốn FDI thường tập trung vào khâu lắp ráp có giá trị gia tăng thấp, cũng làm giảm động lực sử dụng nguồn cung trong nước và chuyển giao công nghệ. Mặt khác, chi tiêu cho R&D còn thấp, thiếu hụt lao động kỹ năng cao, khoảng trống về quản trị và các rào cản pháp lý làm gia tăng chi phí giao dịch và hạn chế năng lực hấp thụ của doanh nghiệp trong nước.
Tính đến ngày 15/5, Việt Nam ghi nhận thâm hụt thương mại lên tới 14 tỷ USD, phản ánh xu hướng thương mại ngày càng do khu vực FDI dẫn dắt và những khó khăn kéo dài của khu vực trong nước. Cán cân thương mại chuyển sang thâm hụt 5,69 tỷ USD chỉ trong nửa đầu tháng 5, khi nhập khẩu tăng trên 10%, còn xuất khẩu giảm 13,6%.
Diễn biến này phản ánh hoạt động thương mại gia tăng mạnh của khu vực FDI, với nhập khẩu và xuất khẩu 5,5 tháng năm 2026 lần lượt tăng 25,6% và 34,3% so với cùng kỳ năm 2025.
Đáng nói, sau khi Mỹ công bố các mức thuế đối ứng mới, xuất khẩu của khu vực FDI trong tháng 4/2026 tăng tới 42% so với cùng kỳ, trong khi xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp trong nước lại giảm tới 24,5%. Sự phân hóa này bắt nguồn từ gánh nặng thuế quan không đồng đều.
Cụ thể, các ngành do doanh nghiệp trong nước chiếm ưu thế như dệt may, da giày và gỗ phải đối mặt với mức thuế suất hiệu dụng từ 15- 38%, cao gấp khoảng 4 lần so với mức 9% áp dụng cho điện tử và máy móc - vốn là những lĩnh vực do doanh nghiệp FDI chiếm ưu thế. WB cho rằng, cú sốc này có tính bất đối xứng do cơ cấu sản xuất của nền kinh tế Việt Nam, cũng như do khác biệt về khả năng chống chịu giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.
Theo đó, các doanh nghiệp FDI có các hợp đồng dài hạn với khách hàng, giúp giảm tác động tức thời từ việc hủy đơn hàng; các chuỗi cung ứng nội bộ; nguồn tài chính từ công ty mẹ để ứng phó với gián đoạn, họ cũng có quyền định giá nhờ độ phức tạp cao hơn của sản phẩm. Ngược lại, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam vẫn nhỏ, vốn mỏng và phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng ngắn hạn, nên mỗi khi thị trường rung lắc, họ gần như không có khoảng đệm tài chính để chống đỡ.
-
“Cơn khát” nhân lực đè nặng tiến độ đại công trường giao thông -
Lâm Đồng giám sát, đánh giá đầu tư năm 2026 tại 2 khu công nghiệp -
Doanh nghiệp Việt đẩy mạnh bán hàng toàn cầu qua Amazon -
TP.HCM đầu tư gần 2.000 tỷ đồng nâng cấp 2 bệnh viện trọng điểm -
Hưng Yên phấn đấu thu hút khoảng 3 tỷ USD vào khu, cụm công nghiệp năm 2026 -
Đắk Lắk sắp kích hoạt dòng vốn đầu tư lớn tại Hội nghị xúc tiến đầu tư -
Hoàn thiện kịch bản đầu tư tuyến cao tốc Nha Trang - Đà Lạt vốn 25.058 tỷ đồng
-
Cập nhật giá đơn vị Quỹ liên kết đơn vị của AIA Việt Nam ngày 11/6/2026 -
“Con đường tương lai” của nhà văn Nguyễn Xuân Tuấn được giới thiệu tới bạn bè quốc tế tại Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 -
Samsung đẩy mạnh hợp tác toàn diện với các trường đại học trong lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ tại Việt Nam -
Manulife phát triển đội ngũ tư vấn tài chính - bảo hiểm thế hệ mới -
Sức hút từ hệ sinh thái VPBank tại Ngày Tài chính số 2026
-
Đoàn công tác tỉnh Phú Thọ làm việc với Đại sứ quán Việt Nam tại Phần Lan

