Thứ Sáu, Ngày 29 tháng 05 năm 2026,
Việt Nam đón thời cơ khi chuỗi cung ứng toàn cầu đổi chiều
Thế Hoàng - 29/05/2026 10:26
 
Làn sóng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu diễn ra "tốc độ" hơn, đang mở ra cơ hội lớn cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất quốc tế, nhưng áp lực đi kèm là tiêu chuẩn hàng hóa cao hơn.
FDI.jpeg
Việt Nam đang đón dòng vốn dịch chuyển sản xuất lớn từ các tập đoàn, doanh nghiệp FDI.

Chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc

Việt Nam đang đón dòng dịch chuyển mạnh mẽ nhờ chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc, mở ra dư địa để doanh nghiệp nội địa tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất quốc tế.

Thông tin được chia sẻ tại Hội thảo “Xu hướng và giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu” do Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công thương) tổ chức.

Chỉ trong 4 tháng đầu năm, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện tại Việt Nam đạt 7,4 tỷ USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước, là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của cùng kỳ năm trong 5 năm qua.

"Cục diện kinh tế và địa chính trị thế giới đang tiếp tục biến động mạnh, kéo theo làn sóng tái cấu trúc chuỗi cung ứng diễn ra với tốc độ nhanh hơn", ông Lê Hoàng Tài, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại nhận định.

Diễn biến là các tập đoàn đa quốc gia đang đẩy nhanh chiến lược đa dạng hóa nguồn cung nhằm giảm thiểu rủi ro hệ thống thông qua nhiều mô hình dịch chuyển sản xuất mới như China+1, dịch chuyển sản xuất về gần thị trường tiêu thụ hay chuyển dịch chuỗi giá trị sang các quốc gia có sự đồng điệu về chính sách. 

Trong làn sóng dịch chuyển này, theo ông Tài, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng nhờ giữ vững được ổn định vĩ mô và sở hữu mạng lưới liên kết kinh tế sâu rộng với 17 FTA với hơn 60 thị trường, tạo thời cơ lớn để chuyển mình từ một mắt xích gia công đơn thuần thành trung tâm sản xuất và cung ứng quan trọng có hàm lượng giá trị gia tăng cao hơn trong mạng lưới toàn cầu.

Doanh nghiệp Việt ở đâu trong chuỗi giá trị mới

Việt Nam đang là một trong những quốc gia hưởng lợi rõ nét từ làn sóng tái cấu trúc chuỗi cung ứng. Dòng vốn FDI tiếp tục đổ mạnh vào các lĩnh vực điện tử, công nghệ cao, hạ tầng dữ liệu và sản xuất thông minh. 

Các yêu cầu của dòng vốn FDI thế hệ mới ngày càng cao hơn. Nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến chi phí sản xuất, mà còn đánh giá khả năng cung ứng năng lượng ổn định, chất lượng nguồn nhân lực, mức độ phát triển của công nghiệp phụ trợ, tiêu chuẩn ESG, năng lực chuyển đổi số... Đồng nghĩa, Việt Nam khó có thể tiếp tục cạnh tranh bằng mô hình tăng trưởng cũ.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, giai đoạn hiện nay cho thấy sự dịch chuyển không còn chỉ là câu chuyện của chi phí hay thuế quan. Các doanh nghiệp toàn cầu đang tái thiết chuỗi cung ứng theo hướng linh hoạt hơn, an toàn hơn và ít phụ thuộc hơn vào một khu vực duy nhất. Điều đó khiến tiêu chí lựa chọn điểm đến đầu tư cũng thay đổi đáng kể.

Cụ thể, họ không chỉ tìm kiếm nơi “sản xuất rẻ”, mà tìm kiếm nơi có thể đảm bảo vận hành ổn định trong dài hạn – từ hạ tầng logistics, năng lượng, chất lượng lao động cho tới khả năng đáp ứng tiêu chuẩn công nghệ và phát triển bền vững

TS. Bùi Hồng Sơn, Chuyên gia kinh tế Viện Chiến lược kinh tế quốc tế cho rằng, chuỗi cung ứng toàn cầu hiện không còn vận hành theo logic toàn cầu hóa cũ, khi mọi hoạt động sản xuất dần tập trung về Trung Quốc để tối ưu chi phí. Sau Covid-19 và căng thẳng Mỹ - Trung, các nền kinh tế lớn bắt đầu tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng giảm phụ thuộc và tăng khả năng kiểm soát rủi ro. 

Trong dòng chảy dịch chuyển này, các nền kinh tế lớn hiện không chỉ nhìn chuỗi cung ứng dưới góc độ chi phí, mà chuyển sang ưu tiên khả năng chống chịu, an ninh kinh tế và tự chủ công nghệ. 

Quá trình tái bố trí sản xuất toàn cầu, Việt Nam đang trở thành điểm đến của nhiều doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc, tuy nhiên, theo TS. Bùi Hồng Sơn, phần lớn hoạt động dịch chuyển vào Việt Nam hiện vẫn chủ yếu nằm ở các khâu lắp ráp hoặc phân khúc giá trị thấp.

Đây là nghịch lý lớn trong bức tranh tăng trưởng hiện nay, bởi xuất khẩu tăng mạnh, FDI liên tục mở rộng nhưng doanh nghiệp nội địa vẫn rất khó chen chân vào các mắt xích có giá trị gia tăng cao.

4 tháng đầu năm nay, tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước  đạt 345,68 tỷ USD, tăng 24,7% (Xuất khẩu đạt 169,02 tỷ USD, tăng 20,1%  và nhập khẩu đạt 176,66 tỷ USD, tăng 29,5%).

Đáng chú ý, tổng trị giá xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong 4 tháng/2026 là 259,13 tỷ USD, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó xuất khẩu đạt 133,57 tỷ USD, tăng 25,4%,  nhập khẩu đạt 125,56 tỷ USD, tăng 32,4%.

Ngược lại, xuất nhập khẩu của doanh nghiệp trong nước chỉ 86,55 tỷ USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng 10,69 tỷ USD. Thặng dư thương mại của khối doanh nghiệp FDI hơn 8 tỷ USD, doanh nghiệp trong nước lại thâm hụt 15,65 tỷ USD.

“Có làn sóng dịch chuyển vào Việt Nam nhưng chủ yếu vẫn ở phân khúc thấp. Việt Nam hiện vẫn chưa thoát khỏi vai trò lắp ráp. Phần lớn những hoạt động chuyển sang Việt Nam vẫn là các công đoạn sử dụng lao động, còn các khâu cốt lõi về công nghệ hay kiểm soát chuỗi vẫn nằm ở nước ngoài”, ông Sơn nhìn nhận. 

Nhìn từ lĩnh vực điện tử càng thấy rõ. Năm 2025, điện tử mang về 165 tỷ USD từ xuất khẩu, nhưng khu vực FDI đóng góp doanh thu hơn 152 tỷ USD. Đằng sau động lực tăng trưởng này là nhiều vấn đề cần giải quyết, từ sự lệ thuộc vào chuỗi cung ứng ngoại, giá trị gia tăng thấp, đến rủi ro thương mại, thuế quan...

Ông Xavier Duf, Tổng Giám đốc Công ty Nghiên cứu và Tư vấn DXL cho biết, hàng hóa Made in Vietnam hiện đã xuất hiện ngày càng nhiều hơn tại các thị trường quốc tế, đặc biệt ở các lĩnh vực điện tử, dệt may, nông sản, nội thất hay bao bì xanh. 

Nhưng cục diện cạnh tranh nay đã khác. Ông Xavier Duf lưu ý, nếu trước đây doanh nghiệp có thể cạnh tranh bằng chi phí thấp thì nay minh bạch chuỗi cung ứng, ESG và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế mới là điều kiện gần như bắt buộc nếu muốn tham gia thị trường Mỹ và châu Âu.

Hiện, các khách hàng quốc tế hiện không chỉ quan tâm tới giá thành, mà còn đặt yêu cầu cao về dữ liệu ESG, quy trình sản xuất và khả năng minh bạch thông tin của hàng hóa và nhà cung cấp. 

Tóm lại, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần phải thể hiện rõ hơn qua khả năng đáp ứng tiêu chuẩn toàn cầu về chất lượng, dữ liệu, truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững và tốc độ thích ứng. 

Biến động chuỗi cung ứng toàn cầu mở cơ hội mới cho ngành thực phẩm Việt
Biến động chuỗi cung ứng và áp lực chi phí toàn cầu đang thúc đẩy ngành thực phẩm Việt Nam đón cơ hội mở rộng thị trường, thu hút đầu tư...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư