-
Hà Nội chủ động quỹ tái định cư, đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm -
Hà Nội: Tăng tốc hạ tầng chiến lược từ kỷ lục giải ngân đầu tư công -
Dốc toàn lực đưa đường sắt nhẹ 9.000 tỷ đồng tại Phú Quốc chạy thử giữa năm 2027 -
Dòng vốn đầu tư châu Âu vào TP.HCM nhắm công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu -
Hải Phòng dồn lực giải ngân 19.575 tỷ đồng vốn đầu tư công trong 5 tháng cuối năm
Bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính: Chuyển đổi từ tư duy "thu hút đầu tư nước ngoài" sang tư duy "phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài"
Trong hơn 40 năm qua, FDI đã mang lại nhiều tác động rất tích cực đối với nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan, thực tiễn vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập, đặc biệt là những vấn đề mới đặt ra trong bối cảnh và giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế.
Hơn 40 năm qua, chính sách thu hút FDI là một chiến lược hoàn toàn đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đã giúp huy động được nguồn lực rất lớn cho quá trình phát triển đất nước. Mặc dù vậy, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động này vẫn còn những hạn chế, nhất là tính lan tỏa đối với khu vực kinh tế trong nước. Bước sang giai đoạn mới, khi cạnh tranh chiến lược đang rất áp lực, cùng với sự bứt phá mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển của đất nước là phải có bước đổi mới căn bản trong mô hình phát triển.
Trong bối cảnh đó, việc phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ dừng lại ở việc thu hút được nhiều hơn về quy mô vốn như giai đoạn trước, mà phải hướng tới việc nâng cao chất lượng, hiệu quả, đặc biệt là kết hợp chặt chẽ giữa nguồn lực nước ngoài với nguồn lực trong nước nhằm gia tăng nội lực của nền kinh tế.
![]() |
| Bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính - Ảnh: Chinhphu.vn |
Xuất phát từ các yêu cầu thực tiễn đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Từ góc độ của Bộ Tài chính – cơ quan chủ trì chắp bút xây dựng đề án để báo cáo Đảng ủy Chính phủ trình Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết này, chúng tôi đánh giá Nghị quyết số 10-NQ/TW có 6 chuyển đổi lớn về tư duy phát triển:
Thứ nhất, chuyển đổi từ tư duy "thu hút đầu tư nước ngoài" sang tư duy "phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài". Nghị quyết đã tiếp cận một cách toàn diện và bao quát hơn, bao gồm cả đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn, các thiết chế tài chính quốc tế, đồng thời coi khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hợp thành hữu cơ của nền kinh tế quốc dân.
Thứ hai, chuyển từ coi trọng quy mô, số lượng vốn sang chú trọng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Nếu như trong giai đoạn đầu, kết quả thu hút đầu tư nước ngoài chủ yếu được đánh giá thông qua số lượng dự án và tổng số vốn thu hút, thì trong bối cảnh mới, thu hút vốn vẫn cần thiết nhưng không còn là yếu tố duy nhất. Quan trọng hơn là dòng vốn đầu tư khi vào trong nước tạo ra tác động lan tỏa như thế nào đối với khu vực kinh tế nội địa, mang lại kết quả gì cho doanh nghiệp trong nước và đóng góp ra sao cho tổng thể nền kinh tế. Đây là yêu cầu có ý nghĩa ngày càng quyết định đối với nền kinh tế.
Thứ ba, thay đổi căn bản về cơ chế và tư duy ưu đãi đầu tư của Nhà nước. Trước đây, chính sách ưu đãi chủ yếu tập trung theo cách thức truyền thống, như ưu đãi theo ngành, lĩnh vực ưu tiên hoặc theo địa bàn khó khăn. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, các chính sách ưu đãi truyền thống đó không còn đủ sức hấp dẫn để thu hút các dòng vốn chất lượng cao, FDI thế hệ mới. Theo định hướng của Nghị quyết số 10-NQ/TW, chính sách ưu đãi trong thời gian tới phải gắn liền với kết quả đầu ra. Ưu đãi phải dựa trên đóng góp thực tế của dòng vốn đối với nền kinh tế, như mức độ lan tỏa, công nghệ hiện đại, khả năng chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước; tránh tình trạng dòng vốn vào nhưng vận hành biệt lập, tạo thành hiện tượng "2 nền kinh tế trong một nền kinh tế".
Thứ tư, chuyển từ việc thu hút các dự án FDI đơn lẻ sang phát triển đồng bộ hệ sinh thái gắn kết với các dòng vốn quốc tế. Dòng vốn FDI hiện nay không vận hành độc lập mà phải kết nối đồng bộ với các dòng vốn gián tiếp và các nguồn vốn quốc tế khác thông qua các mô hình phát triển mới như trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do hay các khu kinh tế đặc biệt. Điều này không chỉ giúp thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn mà còn giúp phân bổ lại nguồn lực, tối ưu hóa sự phát triển của nền kinh tế.
Thứ năm, chuyển từ tư duy "quản lý đầu tư" sang "kiến tạo môi trường đầu tư kinh doanh". Trong những năm trước, quản lý dòng vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào việc bảo đảm không vi phạm pháp luật, tuân thủ đúng các quy định hiện hành, bảo đảm an ninh, an toàn và môi trường. Trong giai đoạn mới, bên cạnh việc quản lý tuân thủ pháp luật, cơ quan quản lý phải kiến tạo môi trường thuận lợi để dòng vốn ngoại kết hợp hiệu quả với dòng vốn nội, tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ hơn. Muốn vậy, chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng các yếu tố nền tảng như hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực chất lượng cao, môi trường kinh doanh, năng lực quản trị và thể chế. Chỉ khi chuẩn bị đầy đủ các yếu tố này, dòng vốn chất lượng cao mới có thể phát huy tối đa hiệu quả.
Thứ sáu, khắc phục triệt để tình trạng "cạnh tranh xuống đáy" giữa các địa phương trong thu hút đầu tư và bảo đảm công tác điều phối phát triển các dòng vốn ở tầm quốc gia. Yêu cầu đặt ra là phải phân bổ và điều phối hài hòa dòng vốn vào đúng những khu vực, ngành nghề thực sự có nhu cầu, bảo đảm sự phát triển cân đối, hài hòa giữa các vùng, miền trong bối cảnh mới.
Tóm lại, thông điệp cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQ/TW là sự chuyển đổi về mục tiêu: không chỉ dừng lại ở việc huy động nguồn vốn đong đếm bằng số lượng dự án, mà quan trọng là huy động và kết nối nguồn lực quốc tế với nội lực nền kinh tế, nhằm kiến tạo năng lực phát triển mới cho kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Đó chính là thông điệp trọng tâm mà Nghị quyết số 10-NQ/TW muốn gửi tới các nhà đầu tư.
Ông Phan Đức Hiếu, Uỷ viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội: Không thể thu hút đầu tư mãi mãi chỉ bằng một công cụ duy nhất là ưu đãi
Với tư cách là một Đại biểu Quốc hội đồng thời là một nhà nghiên cứu, tôi có góc nhìn về những yếu tố mang tính bản chất, những nội dung không hoàn toàn thể hiện bằng chữ viết cấu thành nên nghị quyết này.
Đầu tiên, chúng ta cần nhìn lại quá trình phát triển. Năm 2019, chúng ta có Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030. Theo tôi, đó là một bước ngoặt quan trọng trong việc thay đổi tư duy về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong đó, Nghị quyết đã bắt đầu nhấn mạnh việc thu hút đầu tư nước ngoài có chất lượng cao và thúc đẩy sự hợp tác giữa khu vực đầu tư nước ngoài với khu vực đầu tư trong nước.
![]() |
| Ông Phan Đức Hiếu, Uỷ viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế của Quốc hội - Ảnh: chinhphu.vn |
Quay trở lại thời điểm hiện tại, 6-7 năm sau, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. So sánh Nghị quyết số 10-NQ/TW với lần thay đổi tư duy gần đây nhất của chúng ta, có thể thấy nghị quyết này mang những điểm thực sự đột phá và thay đổi sâu sắc. Trước hết, tôi hoàn toàn nhất trí với 6 điểm thay đổi cơ bản như chị Thủy đã liệt kê. Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh một số khía cạnh quan trọng.
Thứ nhất, Nghị quyết số 10-NQ/TW kế thừa rất nhiều mục tiêu và giải pháp đã được đề ra trong Nghị quyết số 50-NQ/TW, đồng thời bổ sung nhiều nội dung mới rất quan trọng. Điều quan trọng nhất theo tôi chính là sự thay đổi hoàn toàn về cách tiếp cận. Tư duy cốt lõi ở đây nằm ở phương pháp tiếp cận, và 6 điểm thay đổi khác biệt như chị Thủy đã liệt kê có thể được tôi khái quát hóa lại thành 4 đặc trưng: Một là, chúng ta tiếp cận một cách bài bản và hệ thống hơn. Hai là, tư duy của chúng ta trở nên sâu sắc và thực tế hơn. Tôi xin phân tích kỹ hơn về 4 đặc tính này nhằm khái quát trọn vẹn 6 điểm khác biệt mà chị Thủy đã đề cập.
Tại sao lại khẳng định cách tiếp cận lần này là bài bản và hệ thống?
Tôi xin nhấn mạnh lại rằng lần này chúng ta xác định rất rõ ràng việc thu hút cả dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FII). Đó là một cách tiếp cận rất hệ thống. Điểm thứ hai thể hiện tính bài bản và hệ thống là: Mấu chốt của chúng ta lần này trong việc thu hút đầu tư nước ngoài là xây dựng một hệ sinh thái thuận lợi cho các hoạt động đầu tư nước ngoài. Tức là chúng ta nhìn nhận toàn bộ vòng đời hoạt động của dự án đầu tư nước ngoài, từ giai đoạn xúc tiến, thu hút đầu tư ban đầu cho đến suốt quá trình vận hành, hoạt động sau này, tất cả phải dựa trên một hệ sinh thái đồng bộ. Như vậy, chúng ta thể hiện tính bài bản.
Chúng ta phát triển một hệ sinh thái toàn diện, bao gồm cả môi trường sống, môi trường công tác, nguồn nhân lực, hạ tầng cứng và hạ tầng mềm. Chúng ta không chỉ chú trọng ở khâu gia nhập thị trường mà chú trọng đến toàn bộ vòng đời của hoạt động đầu tư nước ngoài.
Trước đây, tính bài bản và hệ thống này có sự khác biệt rất lớn. Trước đây chúng ta chủ yếu thu hút đầu tư thông qua các biện pháp chính sách ưu đãi ở khâu gia nhập thị trường và công cụ chủ yếu là chính sách ưu đãi đơn thuần. Hiện nay, cách tiếp cận của chúng ta đã trở nên rất bài bản và hệ thống. Đó là đặc điểm thứ nhất.
Đặc điểm thứ hai tôi muốn phân tích là tại sao tư duy của chúng ta lại sâu sắc và thực tế hơn? Lý do là vì chúng ta không thể thu hút đầu tư mãi mãi chỉ bằng một công cụ duy nhất là ưu đãi. Muốn nâng cao chất lượng của dòng vốn FDI thì mấu chốt quan trọng nhất là chúng ta phải nâng cao năng lực hấp thụ của nền kinh tế. Dòng vốn FDI tốt sẽ không tự động lan tỏa nếu như chúng ta thiếu đi năng lực hấp thụ.
Lần này, tư duy của Đảng thể hiện rất sâu sắc và thực tế. Điều này thể hiện qua việc nhận thức rõ dòng vốn FDI không tự nhiên lan tỏa được, hoặc sự lan tỏa sẽ rất hạn chế nếu chúng ta không có khả năng hấp thụ. Cho nên, lần này chúng ta tiếp cận bằng một loạt giải pháp nhằm nâng cao năng lực hấp thụ của nước chủ nhà, đặc biệt là nâng cao chất lượng của khu vực doanh nghiệp trong nước và hoàn thiện hạ tầng cho phát triển sản xuất kinh doanh, từ đó gia tăng độ sẵn sàng trong việc hợp tác với khu vực đầu tư nước ngoài.
Tại sao chúng ta lại sâu sắc? Là vì nếu chúng ta nâng cao năng lực hấp thụ của nền kinh tế và của khu vực doanh nghiệp trong nước, đặt trong bối cảnh thu hút FDI sẽ rất phù hợp vì làm tăng sự sẵn sàng và khả năng hấp thụ. Nhưng ngay cả khi đặt ra ngoài bối cảnh FDI, việc này cũng vô hình trung giúp chúng ta nâng cao năng lực tự chủ, tinh thần tự lực, tự cường trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây rõ ràng là một tư duy rất sâu sắc.
Trong mọi hoàn cảnh, đây có thể gọi là giải pháp "một mũi tên trúng nhiều mục tiêu". Vì vậy, điểm đầu tiên tôi muốn khái quát hóa là tư duy lần này của chúng ta rất bài bản, hệ thống, sâu sắc và thực tiễn.
Về vấn đề Nghị quyết số 10-NQ/TW sẽ đóng góp như thế nào vào chiến lược phát triển của đất nước? Điều này được thể hiện qua hai biểu hiện rất rõ ràng:
Thứ nhất, chủ trương xuyên suốt của chúng ta là phát huy tối đa mọi nguồn lực và mọi thành phần kinh tế đóng góp vào sự phát triển của đất nước. Nếu chúng ta gia tăng chất lượng của hoạt động đầu tư nước ngoài thì rõ ràng chúng ta sẽ phát huy tốt hơn nguồn lực quan trọng này.
Thứ hai, nếu chúng ta hoàn thành các mục tiêu do Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt ra thì không chỉ thu hút được dòng vốn FDI có chất lượng mà chúng ta còn hấp thụ được năng lực từ khu vực đầu tư nước ngoài, qua đó nâng cao và thúc đẩy năng lực nội tại của nền kinh tế.
Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Năng lực nội tại của nền kinh tế và của khu vực doanh nghiệp trong nước chính là nền tảng cốt lõi cho mục tiêu xây dựng và phát triển mô hình kinh tế mới theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW mà chúng ta đã đặt ra. Đó là mô hình kinh tế có hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập. Hãy hình dung rằng, việc nâng cao chất lượng của bản thân dòng vốn FDI, tạo tác động lan tỏa, tăng cường sự hợp tác cũng như thúc đẩy gia tăng nội lực của nền kinh tế sẽ đóng góp trực tiếp và thiết thực vào chiến lược phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Như vậy, tôi nhận thấy Nghị quyết số 10-NQ/TW lần này đã thay đổi hoàn toàn về cách tiếp cận và tư duy phát triển. Dù kế thừa nhiều mục tiêu, quan điểm và giải pháp từ trước, nhưng nghị quyết này đã tạo ra sự thay đổi lớn về cả chất và lượng so với các nghị quyết trước đây.
-
Hà Nội chủ động quỹ tái định cư, đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm -
Hà Nội: Tăng tốc hạ tầng chiến lược từ kỷ lục giải ngân đầu tư công -
Dốc toàn lực đưa đường sắt nhẹ 9.000 tỷ đồng tại Phú Quốc chạy thử giữa năm 2027 -
Dòng vốn đầu tư châu Âu vào TP.HCM nhắm công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu
-
Hải Phòng dồn lực giải ngân 19.575 tỷ đồng vốn đầu tư công trong 5 tháng cuối năm -
Lâm Đồng có 26 dự án chồng lấn khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia -
Đột phá thể chế cho khu kinh tế ven biển miền Trung -
Soi bước tiến Dự án vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội vốn 85.813 tỷ đồng -
Thành lập Khu Công nghệ cao tỉnh Hưng Yên rộng gần 500 ha -
Đề xuất cơ chế tài chính cho cao tốc Phan Thiết - Bảo Lộc vốn 26.000 tỷ đồng -
TP.HCM yêu cầu không tự đặt thêm thủ tục, giấy tờ ngoài quy định với doanh nghiệp
-
1
Đề xuất nghiên cứu hình thành 28 khu TOD trên tuyến đường sắt TP.HCM - Cần Thơ -
2
Nền kinh tế tiếp tục duy trì xu hướng tích cực -
3
Nước rút khởi công cao tốc Bắc Kạn - Cao Bằng vốn 29.300 tỷ đồng vào tháng 12/2026 -
4
Đề xuất tiếp tục nới trần tiền gửi Kho bạc Nhà nước để tạo thêm thanh khoản cho ngân hàng
-
SeABank thông báo mời thầu -
Công ty cổ phần kinh doanh F88 thông báo chào bán trái phiếu ra công chúng đợt 3 (Kỳ 1) -
Dai-ichi Life Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế Top 3 Công ty Bảo hiểm Nhân thọ uy tín 2026 -
Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa kinh tế số thành động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên phát triển mới -
Anova Agri hợp tác cùng Base.vn kiến tạo mô hình vận hành thế hệ mới, hiện thực hóa chiến lược ứng dụng AI trong quản trị doanh nghiệp -
Công ty Cổ phần Đầu tư Quốc tế Hoàng Anh Gia Lai thông báo chào bán 18.800.000 cổ phiếu lần đầu ra công chúng (Kỳ 2)



